Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký.
Lời Vàng: "Ở Tây Phương chư Phật ngóng trong, Chờ bá tánh rủ nhau niệm Phật." Đức Thầy
Xem các bài viết
This section allows you to view all posts made by this member. Note that you can only see posts made in areas you currently have access to.
  Messages   Topics   Attachments  

  Topics - admin
Trang: 1 ... 13 [14]
131  PHẬT GIÁO HÒA HẢO / SẤM GIẢNG GIÁO LÝ / Quyển 4: Giác Mê Tâm Kệ vào lúc: 03/16/09


Download MP3
Lổi bị hát không được đã sửa 4/17/2010


Quyển IV: Giác Mê Tâm Kệ

Đây là quyển thứ tư mà Đức Thầy đã viết ngày 20 tháng 9 năm Kỹ Mão (1939)
tại Hòa Hảo (846 câu)


        TRANG 1

Khai ngọn đuốc từ bi chí thiện,
Tìm con lành dắt lại Phật đường.
Thương dân hiền giáo đạo Nam phương,
Đặng chỉ ngõ làm lành lánh dữ.
Sách thánh đạo ghi trong Tam Tự,
Người mới sanh tánh thiện Trời dành.
Bởi lớn lên tập nhiễm lợi danh,
Nên tật xấu che mờ thiện tánh.
Thiếu giáo dục thiếu thêm đức hạnh,
Ta quyết lòng nhắc lại tánh xưa.
Mặc người đời gièm siểm ghét ưa,
Rừng kinh kệ ít người hay chữ.
Quá mắc mỏ bởi chưng Phạn ngữ,
Nên người đời khó kiếm cho ra,
Mõ chuông bày đọc tụng ó la,
Chớ hiếm kẻ tường thông nghĩa lý.
Dòm trước mắt thấy điều hồ mị,
Nên động tình bác ai dạy răn.
Réo những ai lợi dụng làm xằng,
Cho suy sụp chơn nhơn mù mịt.
Nào có khác mây đen phủ bít,
Rồi dắt nhau đến chỗ dại ngây.
Lấy tinh thần hiệp vén ngút mây,
Trong bổn đạo tự thân phải xử.
Xuống dương thế dạo trong lê thứ,
Thấy bá gia gặp lúc não nùng,
Cảnh trần gian nhiều nỗi lao lung,
Việc tu tỉnh ít người hiểu lý.
Trong bá tánh muốn nơi cao quí,
Hãy truy tầm huyền bí nơi cơ.
Từ sấm kinh cho đến thi thơ,
Trong chốn ấy nhiều nơi trọng yếu.
Tạo làm chi những trung với hiếu !
Ấy là người bổn phận phải trau.
Khuyên dương trần đừng nệ cần lao,
Cũng rán sửa rán trau nền đạo.
Tu đầu tóc không cần phải cạo,
Miễn cho rồi cái Đạo làm người.
Kể từ nay lỡ khóc lỡ cười,
Vì buồn bực thấy đời biến chuyển.
Các chư Phật từ đây lựa tuyển,
Coi ai là đức hạnh hiền từ.

        TRANG 2

Lời sách xưa cận thủy tri ngư,
Cận sơn lãnh trần gian tri điểu.
Trong sấm giảng nếu ai không hiểu,
Tầm kệ nầy Ta chỉ nẻo đường.
Quyết dạy trần nên nói lời thường,
Cho sanh chúng đời nay dễ biết.
Trời dông gió sái mùa sái tiết,
Nắng cùng mưa cũng khác xưa rồi.
Khuyên dương gian bỏ các việc tồi,
Đặng lo liệu cho tròn phận sự,
Thấy trần thế hãy còn lưỡng lự,
Muốn tu mà còn hỡi chần chờ.
Việc thế gian như thể cuộc cờ,
Thắng với thối một hai nước tướng.
Nào Ai có gạt dân nói bướng,
Mà dương trần liệu lượng chánh tà.
Ta mến yêu những kẻ thiệt thà,
Nghe cơ giảng thiết tha lo liệu.
Học đạo lý như đờn trúng điệu,
Hòa bản rồi thì cứ làm theo.
Lũ Tam Bành trong bụng còn đeo,
Đoàn Lục Tặc ta mau sớm giết.
Mài gươm trí cho tinh cho khiết,
Dứt tâm trần kiếm chữ sắc không.
Đức Di Đà Phật Tổ ngóng trông,
Chờ dân chúng tìm nơi diệt khổ.
Theo Phật Giáo từ kim chí cổ,
Gốc ông cha ta cũng tu hành.
Mà ngày nay cứ mãi tranh giành,
Danh với lợi của tiền quyền tước.
Thấy trần thế ai ai cũng ước,
Đời sao không tới phứt cho rồi.
Nay khổ lao khó đứng khôn ngồi,
Lúc đói cơm buồn lòng ngơ ngẩn,
Làm ác đức nhiều điều quanh quẩn,
Như gà cồ ăn bẩn cối xay.
Thấy người hiền nói đắng nói cay,
Sau mới biết thân ai lao khổ.
Nhớ thuở trước oai linh Phật Tổ,
Phép thần thông trừ lũ Ma Vương.
Chốn rừng tòng ngồi chịu nắng sương,
Tìm đạo lý hiến cho trần thế.

        TRANG 3

Hiệu Lão Sĩ ra đời thật tế,
Đem lời vàng dạy dỗ dương trần.
Khuyên chúng sanh khuya sớm chuyên cần,
Tìm nguồn cội diệt trừ tứ khổ.
Bịnh với tử từ kim chí cổ,
Sanh với già hai chữ hoài hoài.
Đức Thích Ca xưa ở lầu đài,
Nghiệm tứ khổ nên Ngài tầm Đạo.
Lo tu tỉnh mặc ai khinh ngạo,
Diệt Lục Căn đừng nhiễm Lục Trần.
Chữ Sắc Thinh chớ có hầu gần,
Hương với Vị xác trần nên lánh.
Chữ Xúc Pháp treo gương Hiền Thánh,
Tránh sáu đường cũng đặng về Thần.
Từ xưa nay dạy chỉ nhiều lần,
Mà lê thứ chẳng lo chẳng liệu.
Nhãn thấy sắc thường hay bận bịu,
Tai ưa nghe những điệu âm thinh.
Mắt với tai đều chọn đẹp xinh,
Còn lỗ mũi ưa mùi êm dịu.
Đồ thơm tho nó ưa nó chịu.
Chốn xạ hương hay lết lại gần.
Lưỡi ưa ngon là chuyện ân cần,
Đồ ngọt béo nó ưa nó mến.
Thân tham sướng muốn tiền của đến,
Đặng ăn xài cho cho phỉ tấm tình.
Ý thì lo sửa sắc soi hình,
Với chức phận cho cao cho quí.
Sáu đường ấy ở trong tâm ý,
Ta mau mau dứt nó cho rồi.
Nếu tỉnh tâm chẳng có mấy hồi,
Mượn trí đạo đuổi ra khỏi xác.
Dứt được nó ấy là giải thoát,
Thì xác trần mới khỏi đọa đày.
Cả tiếng kêu những kẻ trí tài,
Hãy yên lặng bình tâm suy nghĩ.
Tiên xử kỷ, hậu lại xử bỉ,
Bắt lỗi người phải xét lỗi mình.
Vậy mới là chánh trực công bình,
Nẻo chánh trực chí người quân tử.
Người biết đạo phải gìn ngôn ngữ,
Nói với ai chớ có sai lời.

        TRANG 4

Trọng mẹ cha kính nể Phật Trời,
Đừng nhiều tiếng nghinh ngang mang lỗi.
Tánh ngay thẳng ta không dời đổi,
Dầu tan xương nát thịt chẳng màng.
Ta Khùng Điên nói đại nói càn,
Chẳng có sợ ai rầy ai mắng.
Trời còn lúc tối mưa sớm nắng,
Thì trần gian còn mãi khổ lao.
Ở trên đời kẻ thấp người cao,
Kẻ hiền hậu người thì gian ác.
Không quen biết mà cao tuổi tác,
Ta cũng nên kính trọng mới là.
Tâm từ bi sánh thể ngọc ngà,
Trong các báu khó bì tánh Thiện.
Phải xử thế chớ nên bày biện,
Miệng xảo ngôn thường kiện tấm thân.
Việc bán buôn phải giữ ngang cân,
Đừng tập tánh lận lường tráo đấu.
Các công cuộc của người tánh xấu,
Ta giữ gìn chớ có nhiễm vào.
Tâm Bần Tăng chẳng mến sắc màu,
Mến những kẻ biết vào đường chánh.
Ta dạy thế mượn lời Phật Thánh,
Nên truyền ban cho chúng sanh tường.
Tuy ngày nay chúng nó hùng cường,
Chừng phân định thì Ta cao quí.
Khuyên bổn đạo lập thân nuôi chí,
Đặng chờ ngày yết kiến Phật Trời.
Quá yêu dân cạn tỏ nhiều lời,
Cho trần hạ tìm trong lánh đục.
Chẳng chịu tu mãi còn lục thục,
Lo giàu nghèo lo cũng chẳng rành.
Ham công danh quên chữ sanh thành,
Mến phú quí quên câu dưỡng dục.
Rán kiếm chỗ tầm Tiên lánh tục,
Người ở đời phải được lòng trong.
Biển hồng trần sớm gội cho xong,
Ngày lập Hội mới mong trở lại.
Chữ bần tiện khuyên dân đừng nại,
Miễn cho ta trở lại ngay đàng.
Chữ vinh hoa giờ chớ có màng,
Bởi giả tạm của đời Ngươn hạ.

        TRANG 5

Gắng công tu gặp nhiều phép lạ,
Của Thần Tiên trừ lũ hung đồ.
Nào lụa là, lãnh nhiễu, tố sô,
Chớ ham mến mà sau lao lý.
Ngày tiêu diệt từ năm Bính Tý,
Đến năm nay hao hớt đã nhiều.
Các ngoại bang đà nhuộm máu điều,
Sao trần thế không toan chẳng liệu.
Để đến việc dang lưng mà chịu,
Chớ Phật đâu cứu kịp cho người.
Khuyên chúng sanh bỏ tánh biếng lười,
Phải sốt sắng làm ăn cần thiết.
Nghèo với đói từ đây sẽ biết,
Hàng ngoại bang bố thiết ta hoài.
Nên bá gia hãy ráng miệt mài,
Dầu rách rưới cũng mau cần kiệm.
Lời Ta dạy hãy nên suy nghiệm,
Phải phá tan Ngũ Uẩn trong mình.
Chữ Tham trong ý muốn mặc tình,
Rán định tánh trừ cho nó tuyệt.
Chữ gây gổ là Sân hãy diệt,
Cho nó đừng thấp thoáng trong lòng.
Thêm chữ Si thiệt quá lòng dòng,
Nên tỉnh trí tìm nơi dụt tắt.
Chữ Nhơn Ngã thật là quá gắt,
Ta chớ nên phân biệt với người.
Dẹp năm tên được mới mừng cười,
Vô pháp tướng mới là thiệt tướng.
Người tu hành phải trừ nghiệp chướng,
Với bốn ma mới đặng an nhàn.
Tửu nhiễm vào thân thể bất an,
Sắc mến nó ngày kia lao khổ.
Ta nghiệm xét từ thời Bàn Cổ,
Có ai dùng mà đặng thành Tiên.
Mà đời nay theo nó liên miên,
Chữ tài của khổ riêng một kiếp.
Bị tội cướp nào ai có tiếp,
Mà đời nay nó cứ mãi làm.
Chữ khí hùng khuyên chớ có ham,
Mà lao lý tấm thân trần thế.
Kẻ nhứt dạ thường sanh bá kế,
Để gạt người làm thế cho mình.
Ngày sau nầy lắm nỗi tội hình,
Sao sanh chúng chẳng lo cải sửa.

        TRANG 6

Bịnh ôn dịch thường hay ói mửa,
Mà dương trần chẳng chịu kiêng-dè.
Qua năm Dê đến lúc mùa hè,
Trong bá tánh biết ai hữu chí.
Ta chịu lịnh Tây Phương thọ ký,
Gìn Nghiệt Long đặng cứu dương-trần.
Nên ra đời dạy dỗ ân cần,
Khuyên bá tánh vạn dân liệu lấy.
Khổ với thảm ngày nay có mấy,
Sợ mai sau dòm thấy bay hồn.
Trừ tà gian còn thiện chỉ tồn,
Cảnh sông máu, núi xương tha thiết.
Trần với thế bây giờ nào biết,
Chừng nhìn xem hư thiệt mới tường.
Ta bây giờ tu niệm tầm thường,
Sau danh thể xạ hương khắp chốn.
Nhà giàu có xài không sợ tốn,
Phải để tiền cho kẻ nghèo nàn.
Lo ăn xài trà rượu xình-xoàng,
Chừng khổ não phàn nàn căn số.
Lời truyền sấm như bài toán đố,
Ai biết tầm thì đặng hưởng nhờ.
Ta khuyên tu dân cứ mãi ngờ,
Sợ gạt chúng kiếm xu kiếm cắc.
Bị ngoại quốc bán hàng quá gắt,
Nên dân ta chịu chữ cơ hàn.
Ta Khùng-Điên của cải chẳng màng,
Miễn lê thứ được câu hạnh phúc.
Cờ thế giới ngày nay gần thúc,
Nên Phật Tiên phải xuống hồng trần.
Chừng lao xao ác thú non Tần,
Thì Nam Quốc lương dân mới biết.
Nay dạy thế cậy cùng ngòi viết,
Với xác trần du thuyết ít hàng.
Ai nói chi Ta cũng chẳng màng,
Sao biết đặng dân đừng có tiếc.
Con phù-du hẫng hờ nào biết,
Thấy bóng đèn thì quyết chung vô.
Thảm thương thay chết héo chết khô,
Nhìn đèn nọ thấy mồ phù dũ.
Kệ khuyên trần đã mãn mùa thu,
Đeo danh lợi như con vật ấy.

        TRANG 7

Giống xe cát biển đông thường thấy,
Tên dã tràng rất uổng công trình.
Khi nước ròng nhờ lúc bình minh,
Lúc nước lớn cát kia tan rã.
Trần phú quí thì trần thong thả,
Chớ còn Ta cứ khổ lao hoài.
Viết kệ cơ ra giảng ít bài,
Mặc lê thứ làm không tự ý.
Coi rồi phải nhận cho hiểu lý,
Câu huyền sâu của kẻ Khùng nầy.
Bởi chữ Khùng của Phật của Thầy,
Chứ chẳng phải của người lãng trí.
Mê với tỉnh nhận ra là lý,
Thấy dương trần ngủ mãi ngủ hoài.
Thức dậy mà tầm Đạo kiếm bài,
Để thi cử khỏi mang tiếng rớt.
Sách Khuyến Thiện miệng kêu không ngớt,
Mà nào ai có thức dậy tầm.
Ta nghĩ suy cũng bắt hỗ thầm,
Nên than thở cũng trần ít tiếng.
Tâm sáng suốt như đài nguyệt kiến,
Tánh trong như nước bích mùa xuân.
Nếu không tu chừng khổ cũng ưng,
Đừng có trách sao không chỉ bảo.
Từ nhỏ tuổi đến người trưởng lão,
Mắc trong vòng sanh tử luân hồi.
Xuống Diêm Đình thấy tội hỡi ôi !
Đó mới biết có nơi địa ngục.
Kỳ xả tội nay còn một lúc,
Sao chẳng tu đặng có hưởng nhờ.
Gặp giảng kinh trần cứ làm ngơ,
Trồng bông kiểng giống chi hưởng nấy.
Địa ngục cũng tại tâm làm quấy,
Về thiên đàng tâm ấy tạo ra.
Cái chữ Tâm mà Quỉ hay Ma,
Tiên hay Phật cũng là tại nó.
Tu với tỉnh biết làm chẳng khó,
Nếu lặng tâm tỏ ngộ Đạo mầu .
Cảnh dương gian muôn thảm ngàn sầu,
Ngó vạn vật đài lầu chẳng có,
Sông với núi trước kia mắt ngó,
Khi chết rồi thấy nó đặng nào.
Ai biết đường hãy sớm tẩu đào,
Kiếm đạo lý mà nhờ mà nhỏi.
Chịu cay đắng tu hành mới giỏi,
Ta thương đời len lỏi xuống trần.

        TRANG 8

Đạo vô vi của Phật ân cần,
Nối theo chí Thích Ca ngày trước.
Câu phú quí Ngài không màng ước,
Chữ bồ đề như cội bá tòng.
Rán dưỡng nuôi chữ đó trong lòng,
Thì là được định chừng diệu quả.
Lời thuyết pháp chẳng vì nhơn ngã,
Người nào đâu có Phật tánh là.
Xem kệ nầy như ngọc như ngà,
Phải nảy nở như cơn mưa thuận.
Hạp mùa tiết giống kia bất luận,
Thảy mọc mầm trổ lá mới mầu.
Trông chúng sanh nghĩ tận đuôi đầu.
Về Cực Lạc mới là hết khổ.
Đạo với lý từ đây nhiều chỗ,
Phải lọc lừa cho kỹ mà nhờ.
Chọn nơi nào đạo chánh phượng thờ,
Thì mới được thân sau cao quí.
Nhìn Phật Giáo mà tìm cái lý,
Coi tại sao ta phải tu hành.
Vì yêu dân Ta kể ngọn ngành,
Khuyên lê thứ làm lành mà tránh.
Cảnh Niết Bàn là nơi cứu-cánh,
Về chốn ni xa lánh hồng trần.
Dầu không siêu cũng đặng về Thần,
Nhờ hai chữ trung quân ái quốc.
Chừng lập Hội biết ai còn mất,
Giờ chưa phân định được chánh tà.
Ta vì vưng sắc lịnh Ngọc Tòa,
Đền Linh Khứu Sơn trung chịu mạng.
Nền đạo đức ta bày quá cạn,
Mà dương gian còn gạn danh từ.
Làm cho Ta lỡ khóc lỡ cười,
Khóc là khóc cho người ngu muội.
Thấy Điên Khùng làm như sắt nguội,
Chẳng tranh đương nó lại khinh khi.
Ngó về Tây niệm chữ từ bi,
Cười trần thế mê si thái quá.
Tranh với luận đặng giành cơm cá,
Khuyến dụ người đặng kiếm bạc tiền.
Thấy chúng sanh ghét ngỏ ganh hiền,
Theo chế nhạo những người tu tỉnh.
Tu không tu cũng không mời thỉnh,
Mặc tình ai trọng-kỉnh hay chê.
Thương lê dân còn mãng say mê,
Chẳng tu tỉnh cho rành sương nắng.

        TRANG 9

Thấy Ta lại nói cay nói đắng,
Đắng với cay Ta cũng chẳng màng.
Chừng trần gian kiến thấy phụng hoàng,
Sè cánh múa chào mừng Phật Thánh.
Thấy đạo lý chớ nào thấy tánh,
Còn ẩn nơi tim óc xác phàm.
Ai biết tri việc phải cứ làm,
Sau mới biết ai phàm ai Thánh.
Đức Lục Tổ ít ai dám sánh,
Người dốt mà nói pháp quá rành.
Lựa làm chi cao chữ học hành,
Biết tỏ ngộ ấy là gặp Đạo.
Việc cổ tích cần chi phải thạo,
Chuyện qua rồi kể lại làm gì.
Nếu ai mà biết chữ tu trì,
Tâm bình tịnh được thì phát huệ.
Ta yêu chúng viết ra Giảng Kệ,
Khuyên tăng đồ cùng các tín đồ.
Nghe cạn lời chớ có mơ hồ,
Tìm hiểu nghĩa làm theo đắc Đạo.
Trần với thế nó hay kiêu ngạo,
Các nhà sư hãy ráng sửa mình.
Nếu xuất gia ngũ giới rán gìn,
Tu chơn chánh mới không hổ tiếng.
Cả ngàn năm nhơn tâm xao xuyến,
Sao tu hoài chẳng thấy ai thành.
Bởi chữ tu liền với chữ hành,
Hành bất chánh người đời mới nói.
Bị tăng chúng quá ham chùa ngói,
Nên tới khuyên khắp chốn cùng làng.
Phật nào ham tượng cốt phết vàng,
Mà tăng tạo hao tiền bá tánh.
Việc giả dối từ nay nên lánh,
Bổn-đạo ôi! hãy ráng sửa mình.
Cuộc dạy đời Ta lắm công trình,
Làm chẳng trọn uổng thay một kiếp.
Lời chơn-chánh trần hay bỏ liếp,
Mãi lo làm húng hiếp người hiền.
Mà làm cho Ngọc Đế thảm phiền,
Muốn trừng trị trần gian thảm thiết.
Đức Phật Tổ tâm ngài nhứt quyết,
Tâu Ngọc Hoàng để Phật dạy trần.
Nên ra Kinh, Cơ Giảng nhiều lần,
Mà dương thế chẳng cần xét đến.
Xác trần tục như cây cạnh khến,
Làm hiền hoài ắt phải tiêu mòn.

        TRANG 10

Đẽo với bào riết nó cũng tròn,
Đến chừng đó trông vào rất tốt.
Lũ giả dối thường hay thề thốt,
Nó chẳng kiêng Thần Thánh là gì.
Tâm kẻ hung làm chuyện cố lỳ,
Chẳng có sợ mang điều tội phước.
Ghét những kẻ tu hành bốc xước,
Miệng kêu gào chuyện phước bề ngoài.
Bước vào chùa thấy Phật lạy dài,
Ra khỏi cửa ra tay cấu xé.
Thấy quyền-quí nó hay dựa mé,
Đặng bợ bưng những kẻ hung sùng.
Ta thương đời nên nói chuyện cùng,
Chẳng có vị có dung kẻ quấy.
Cuộc sám hối vô chùa thường thấy,
Làm gian lừa biết mấy nhiêu lần.
Thấy dương gian lường gạt Thánh Thần,
Mà chua xót cho đời Ngươn Hạ.
Chữ tự hối nào ai có lạ,
Là ăn năn cải sửa tâm lành.
Phật chẳng qua dụng chữ tín thành,
Chớ đâu dụng hương, đăng, trà, quả.
Làm chay đám tạo nhiều xá-mã,
Bay về Tây nói những chuyện gì?
Thấy chúng tăng làm chuyện quái kỳ,
Ta khuyên mãi cũng không chịu bỏ.
Lời chơn chánh hình như nói xỏ,
Mà không không nào có biếm đời.
Thấy lạc lầm khuyên nhủ ít lời,
Chớ nào có ngạo chi tăng chúng.
Coi tâm kệ làm theo mới trúng,
Để lạc lầm lắm bớ tăng đồ !
Định tâm thần như mặt nước hồ,
Suy với nghĩ, nghĩ suy đường lối.
Muốn niệm Phật chẳng cần sớm tối,
Ghi vào lòng sáu chữ Di Đà.
Thì hiền lương quên mất điều tà,
Đặng hạnh phúc nhờ lòng cố gắng.
Việc đạo đức chẳng cần thối thắng,
Chũ tu hiền ngay thẳng lần hồi.
Thấy thiên cơ khó nỗi yên ngồi,
Thương lê thứ tới hồi khổ não.
Thầy lạc tớ không ai chỉ bảo,
Như vịt con dìu dắt nhờ gà.
Phải nghĩ suy cạn lẽ mới là,
Nay gặp gốc phải mau tìm gốc.
Để gặp Phật ngồi mà than khóc,
Gở làm sao hết rối mà về.
Mắt nhìn xem yêu quái bốn bề,
Bởi ác đức nên không ai cứu.

        TRANG 11

Mang thủy ách hồi năm Đinh Sửu,
Đến năm nay tái lại một lần.
Khổ ách nầy đặng thức tỉnh trần,
Rằng thiên định tuồng đời sắp hạ.
Trẻ nhỏ tuổi đời nầy lăng mạ,
Bị văn minh cám dỗ loài người.
Kể từ rày cười một khóc mười,
Kẻo chúng nó dễ ngươi Phật Thánh.
Đạo Quỉ Vương thật nhiều chi nhánh,
Khuyên dương trần sớm tránh mới mầu.
Để ngày sau đến việc thảm sầu,
Rán nghe kỹ lời Ta mách trước.
Thuyền chúng nó thẳng buồm chạy lướt,
Lọt ngoài khơi mới hết hò khoan.
Tu mà ham cho được giàu sang,
Với quyền tước là tu dối thế.
Nhớ thuở trước vua Lương Võ Đế,
Tạo chùa chiền khắp nước tu hành.
Đến chừng sau ngạ tử Đài thành,
Phật bất cứu vì tâm còn ác.
Tu biết cách như đươn biết đát,
Đươn đát rành đặng dựa Xe Loan.
Ai biết nghe thì sớm liệu toan,
Để đến việc như người thất nghiệp.
Phải qui căn cùng nhau hội hiệp,
Rán mau chơn mới kịp Đạo mầu.
Sớm với chiều gắng chí nguyện cầu,
Thì sẽ được Tòa Chương dựa kế.
Chúng sanh thể như gà thất thế,
Phải nằm chờ tới nước bắt ra.
Thời kỳ nầy nhiều quỉ cùng ma,
Trời mở cửa Quỉ Vương xuống thế.
Nên Ta mới ra tay cứu tế,
Kẻo chúng sanh bịnh khổ quá chừng.
Sau Quỉ Vương đi đứng nửa lừng,
Thêm tên tuổi chúng sanh nó biết.
Làm đủ cách xuống lên tha thiết,
Ở ngoài đường nó biết tên mình.
Tin hay không thì cũng mặc tình,
Chớ Ta lắm công trình dạy dỗ.
Hồi thuở trước Thích Ca Phật Tổ,
Ngồi tham thiền bị nó ghẹo hoài.
Mà cũng không rúng động đặng Ngài,
Nên cố oán phá đời mãi mãi.

        TRANG 12

Trong bổn đạo cùng là sư vãi,
Rán bền lòng cho được hiền từ.
Hết khổ lao thì đến vui cười,
Chừng đó mới phỉ tình nguyện ước.
Bọn gái mới ra đường tha thướt,
Bỏ hết trơn nề nếp ông cha.
Khác tánh tình người cổ nước Ta,
Nên phải chịu đớn đau đủ cách.
Trai với gái rán coi sử sách,
Đứng trung thần với kẻ tiết trinh.
Dọn bề trong mới gọi đẹp xinh,
Chớ mang lớp bề ngoài chẳng tốt.
Dạy chẳng đặng lòng như lửa đốt,
Khắp dương gian chưa đặng ba phần.
Kể từ đây Tiên ,Phật ,Thánh ,Thần,
Lo dạy dỗ dương trần chẳng xiết.
Đức Thượng Đế ngự đền Ngọc Khuyết,
Nhìn dương gian cũng luống thở dài.
Thấy chúng sanh trau trỉa mặt mài,
Chớ chẳng chịu trao tâm trỉa tánh.
Kẻ đói khó người sang hay lánh,
Bước lại gần chê lũ tanh hôi.
Cõi ta bà Ta thấy hỡi ôi !
Sầu bá tánh quá nên kiêu cách.
Người tàn tật đui cùi đói rách,
Ít có ai để mắt nhìn vào.
Chuộng những người dù võng sắc màu,
Cậu với mợ, ông, thầy, cô, bác.
Thị kẻ khó như rơm như rác,
Ta quá rầu đài các văn minh.
Mấy ai mà giữ dạ sắc đinh,
Theo Tông Tổ của mình thuở trước.
Đầu với tóc áo quần láng mướt,
Chữ lanh khôn của quỉ của ma.
Chớ nó không có giống người ta,
Ma với quỉ sanh người hung ác.
Lo tập luyện những câu đờn hát,
Chớ chẳng lo dạy dỗ ngu khờ.
Để cái tâm yên lặng như tờ,
Coi Ta nói câu nào bất chánh?
Rán bắt chước làm theo Phật Thánh,
Nếu thiệt người thì biết thương người.
Thấy kẻ khờ quê dốt ngạo cười,
Nào có lấy lời chi chỉ bảo.
Ta thương xót lo tần lo tảo,
Chẳng thấy ai rể thảo dâu hiền.
Làm cho người Thượng Cổ thêm phiền,
Rất đau xót cho nòi cho giống.
Biết chừng nào đươc qui nhứt thống,
Khắp hòan cầu dân biết thương nhau.
Nhắc ra thì dạ ngọc đớn đau,
Không nhắc đến biết đâu dân sửa.
Cơm được chín ta nhờ có lửa,
Dân được vui nhờ lúc khải hoàn.
Phật Như Lai cho phép Khùng troàn,
Cho bổn đạo khắp nơi đặng biết.
Ai chưởi mắng thì ta giả điếc,
Đợi cho người hết giận ta khuyên.
Chữ nhẫn hòa ta để đầu tiên,
Thì đâu có mang câu thù oán.
Việc hung ác hễ vừa thấp thoáng,
Chữ từ bi ta diệt nó liền.
Sự oán thù đáp lại chữ hiền,
Thì thù oán tiêu tan mất hết.

        TRANG 13

Chữ bạn tác dầu cho đến chết,
Cũng keo sơn gắng chặt mới là.
Bước ra đường ăn nói thiệt thà,
Dù khôn khéo cũng là giả dại.
Nếu tranh dương ắt ta bị hại,
Thêm sa cơ lại bị xích xiềng.
Vì đời nay chúng nó dụng tiền,
Ít ai dụng chữ nhơn chữ nghĩa.
Theo học đạo mặc ai mai mỉa,
Ta cũng đừng gây gổ với người.
Được mấy điều thì đáng vàng mười,
Thiệt hiền đức có ai mắng chưởi.
Xưa đức Thánh luận bàn cái lưỡi,
Ngài nói rằng các việc tại mầy.
Thận với hòa hay ghét với rầy,
Cũng cái lưỡi làm thầy các việc.
Phải kiếm cách đặng ta trừ tuyệt,
Lấy tâm thần làm chủ mới mầu.
Cũng chẳng nên theo tánh võ hầu,
Thấy chẳng nói mà nhăng mà nhướng.
Hãy liệu sức chớ nên nói bướng,
Dầu việc chi liệu lượng mà làm.
Điên Khùng nầy chẳng có nói xàm.
Nói những chuyện từ bi bác ái.
Nếu bổn đạo còn ai làm sái,
Coi kệ này thì sửa lấy mình.
Ta không tranh mà cũng không kình,
Cho bá tánh gièm pha thỏa chí.
Ai làm phước in ra mà thí,
Thì được nhiều hạnh phúc sau này.
Chốn non xanh dạy dỗ cáo cầy,
Xuống trần thế ra tay dắt chúng.
Tới với Ta chớ đem đồ cúng,
Chỉ đem theo hai chữ thành lòng.
Chẳng có cần trà, quả, hương nồng,
Mong sanh chúng từ lòng hối ngộ.
Kẻ xa xuôi có lòng ái mộ,
Xem kệ này tu tỉnh tại nhà.
Ở ruộng đồng cũng niệm vậy mà,
Phật chẳng chấp chẳng nài thờ khắc.
Chay bốn bưã ấy là quy tắc,
Của kẻ Khùng chỉ dắt chúng sanh.
Con Phật thì chẳng có khôn lanh,
Đời văn vật khôn ma khôn quỉ.
Lo trang sức kim thời huê mỹ,
Rồi phụ phàng tục cổ nước nhà.
Trong tâm thì chứa chữ gian tà,
Chớ chẳng chứa tấm lòng bác ái.
Học chữ nghĩa cho thông cho thái,
Đặng xuê xang đài các xe tàu.

        TRANG 14

Tiếng chào mừng cửa miệng làm màu,
Trong tâm ý mưu đồ đủ thế.
Ta còn mắc phiêu lưu dương thế,
Dạo Lục Châu đặng cứu bá gia.
Mặc tình ai xem kệ ngâm nga,
Hay sửa đổi tùy lòng hưu hỷ.
Thương sanh chúng tỏ bày quá kỹ,
Hỡi dương trần nên sớm quày đầu.
Đặng sau xem Phật pháp nhiệm mầu,
Với báu quý đài lầu tươi tốt.
Xác ta vốn là người quê dốt,
Nên mở mang chưa được mấy rành.
Khắp dương gian như sợi chỉ mành,
Mong bổn đạo tâm thành trở lại.
Dầu cực khổ thân này chẳng ngại,
Chẳng cần ai bái lạy khẩn cầu.
Bỏ dị đoan mới thấy Đạo mầu,
Bớt giả dối gặp người Thượng Cổ.
Gốc thuở trước của Tông của Tổ,
Đâu có bày dối mị như vầy.
Những sấm truyền xưa của Phật Thầy,
Dân rán kiếm mà truy thì biết.
Xưa để lại nhiều câu thảm thiết,
Mà nào ai có biết để lòng.
Chuyện thiên cơ nói rất não nồng,
Câu hữu lý bá tòng khó sánh.
Chốn tựu hội chớ nên léo hánh,
Vì lời xưa có dặn rạch ròi.
Dân chớ nên phụ bạc giống nòi,
Mà lao lý tấm thân vô ích.
Phải nhẫn nhục chờ người Cổ Tích,
Phật với Trời phân định cho ta.
Người xưa tuy ít chữ nôm na,
Chớ chơn chất người ta ngay thẳng.
Dạy bổn đạo lấy câu trung đẳng ,
Chẳng nói cao vì sắp rốt đời.
Đắng nam nhi ẩn nhẩn tùy thời,
Vậy mới gọi khôn ngoan hữu chí.
Ta ra sức viết câu huyền bí,
Chúng dân ôi! rán kiếm rán tầm.
Giống thú kia là loại sanh cầm,
Mà còn biết kiếm tầm đạo đức.
Thú vật biết tu hành náo nức,
Con người sao chẳng rứt hồng trần?
Việc tu hành phải vẹn nghĩa ân,
Kinh với Sấm chúng dân thường thấy.
Chữ Bát Chánh rõ ràng trong giấy,
Là chơn truyền của Đức Thích Ca.
Người tu hành cần phải tìm ra,
Cho dân biết mục đầu Chánh Kiến.

        TRANG 15

Trí linh mẫn nhìn xem các chuyện,
Phải đừng cho lầm lạc nẻo tà.
Dầu việc người hay việc của ta,
Nên phán đóan cho tường cho tận.
Tội với phước xét coi nhiều bận,
Mới khỏi lầm tà kiến đem vào.
Chánh Tư Duy mục ấy thanh cao,
Hãy tưởng nhớ những điều đáng nhớ.
Trên cùng dưới dầu thầy hay tớ,
Cũng tưởng điều trung chánh mới mầu.
Việc vui say mèo mả đâu đâu,
Hãy dẹp gát nhớ câu Lục Tự.
Câu Chánh Nghiệp cũng là quá bự,
Dầu nghề chi làm việc ngay đường.
Ta đừng nên theo kẻ bất lương,
Học ngón xảo để lừa đồng loại.
Chánh Tinh Tấn dù thành hay bại,
Cứ một đường tín ngưỡng của mình.
Dầu cho ai phá rối đức tin,
Ta cũng cứ một đàng đi tới.
Mục Chánh mạng chúng sanh ơi hỡi,
Cho hồn linh cai quản châu thân.
Lấy chơn nhơn dẹp tánh phàm trần,
Mới có thể mong về Cực Lạc.
Câu Chánh ngữ lòng son ghi tạc,
Tiếng luận bàn ngay ngắn tỏ tường.
Nói những điều đức hạnh hiền lương,
Chớ thêm bớt mà mang tội lỗi.
Việc tráo chác ấy là nguồn cội,
Lời xảo ngôn do đó mà ra.
Kinh nghiệm rồi Ta mới diễn ca,
Câu Chánh niệm thiết tha nhiều nỗi.
Khi cầu nguyện đừng cho phạm lỗi,
Phải làm tròn các việc vẹn toàn.
Dân chớ nên làm bướng làm càn,
Trong lúc ấy niệm cho lấy có.
Mục Chánh Định thiệt là rất khó,
Giữ tấm lòng bất động như như.
Cho hồn linh yên lặng an cư,
Thì mới được huờn nguyên phản bổn.
Tà với chánh còn đương trà trộn,
Người muốn tu phải sớm lọc lừa.
Tứ diệu Đề ai có mến ưa,
Thì lão cũng kể sơ thêm nữa.
Chữ Tập Đề nay đà mở cửa,
Để đem vào khuôn khổ người hiền.
Rán cực lòng một bước đầu tiên,
Sau mới được làm nên Phật Thánh.
Về Thượng giái cõi Tiên mới bảnh,
Đến Diệt Đề trừ vật dục xưa.

        TRANG 16

Cõi hồng trần các việc mến ưa,
Sự giả tạm ta nên rứt bỏ.
Muốn tâm tánh ngày kia sáng tỏ,
Thì Khổ Đề phải chịu nhọc nhành.
Lòng dục tu thì phải thiệt hành,
Chớ đừng có ham điều sung sướng.
Đức Phật Tổ nào đâu hẹp lượng,
Chịu nhọc nhằn mới rõ Đạo Đề.
Thấy một đàng thẳng bẳng mà mê,
Ôi chừng đó mới là mầu nhiệm.
Mùi đạo diệu chúng dân rán kiếm,
Trễ thời kỳ khó gặp đặng Ta .
Rồi hành luôn Bát Nhẫn mới là,
Thì muôn việc đều an bá tuế.
Chữ thứ nhứt Nhẫn Năng Xử Thế,
Là người hiền khó kiếm trên đời.
Lập thân danh tuần trải nơi nơi,
Chờ thời đại mới là khôn khéo.
Chữ Nhẫn giới trì tâm trong trẻo,
Khuyên dương trần giữ phận làm đầu.
Nhẫn Hương Lân cùng khắp đâu đâu,
Trên cùng dưới đều hòa ý hỉ.
Nhẫn Phụ Mẫu gọi trang hiền sĩ,
Phận xướng tùy chồng vợ nhịn nhau.
Nhịn xóm chòm cô bác mới cao,
Nhẫn Tâm nọ ngày ngày an lạc.
Nhịn tất cả những người tuổi tác,
Nhẫn Tánh lành yên tịnh dài lâu.
Giữ một lòng hiền hậu mới mầu,
Quanh năm cũng bảo toàn thân thể.
Chữ Nhẫn Đức kể ra luôn thể,
Thì trong đời vạn sự bình an.
Chữ Nhẫn Thành báu quí hiển vang,
Khắp bá tánh được câu hòa nhã.
Câu đạo đức bay mùi thơm lạ,
Muốn nếm thì phải rán sưu tầm.
Các Đạo tà mưu khéo âm thầm,
Dân rán tránh kẻo lâm mà khổ.
Chúng nó xuống khuyên răn nhiều chỗ,
Dùng phép mầu lòe mắt chúng sanh.
Ai ham linh theo nó tập tành,
Sa cạm bẫy khó mong sống sót.
Ta chẳng phải dùng lời chuốt ngót,
Mà làm cho dân chúng say mê.
Nẻo chánh tà biện luận nhiều bề,
Cho bá tánh tìm nơi cội gốc.
Lựa cho phải kèo xưa danh mộc,
Đừng để lầm thợ khéo sơn da.
Thì sau nầy đến lúc phong ba,
Giông gió lớn cột kèo khỏi gãy.

        TRANG 17

Thấy sanh chúng nhiều người khờ dại,
Chẳng biết gìn phong hóa lễ nghi.
Nên ta đem đạo đức duy trì,
Gìn tục cổ để người chẳng rõ.
Còn chậm chạp Đạo mầu chưa tỏ,
Như rừng hoang mới dọn một đường.
Tớ với Thầy nào quản thân lươn,
Muốn cứu thế xá chi bùn trịn.
Thương quá sức nên ta bịn rịn,
Quyết độ đời cho đến chung thân.
Nếu thế gian còn chốn mê tân,
Thì Ta chẳng an vui Cực Lạc.
Dạy bổn đạo lấy lời chính xác,
Mà chẳng tu là bởi không ưa.
Chớ nước sâu mà bị gàu thưa,
Dân đông đảo lời truyền chẳng xiết.
Nên phải tạm mượn cây ngòi viết,
Đem Đạo mầu như hạn cho mưa.
Đăng tố trần tâm ý Người Xưa,
Chữ thậm thâm trong kinh Phật Giáo.
Nền chơn lý chúng chê rằng láo,
Mà nào Ta có lợi dụng ai.
Trong bá gia nhiều ít lòng chay,
Để giữ trọn trong nền Phật Pháp.
Gìn giới cấm sửa tâm ô tạp,
Niệm Phật thì phải dẹp lòng tà.
Nhớ từ bi hai chữ ngâm nga,
Dầu làm lụng cũng là trì chí.
Chờ Thiên Địa châu nhi phục thỉ,
Như đời xưa có gã Tử Phòng.
Xem thời cơ người đã rõ thông,
Dùng tôi thiểu mà an bá tánh.
Đời vật chất văn minh tranh cạnh,
Chữ lợi quyền giựt giết lẫn nhau.
Động lòng hiền chư Phật đớn đau,
Cho kinh sấm dạy răn trần thế.
Nhìn thấy chuyện gạo châu củi quế,
Nghèo bạc vàng đạo đức cũng nghèo.
Ta xuống trần nhằm lúc nạn eo,
Nên phải bị kẻ hung khinh bỉ.
Vì bác ái nên thân Cuồng Sĩ,
Phải chịu điều khổ hạnh sâu xa.
Mong cho đời gặp lúc khải ca,
Trong bốn biển thái bình mới toại.
Phật, Tiên, Thánh, lòng nhơn hà hải,
Những ước ao thế giới hòa bình.
Nên khuyên đời truyền bá sử kinh,
Cho sanh chúng sửa mình trong sạch.
Giàu đổi bạn khinh khi kẻ rách,
Là những câu trong sách Minh Tâm.

        TRANG 18

Tánh kẻ sang đổi vợ nào lầm,
Thánh nhơn để nhiều câu hữu lý.
Có mấy kẻ ăn năn xét kỹ ?
Mãi ỷ tài chê bướng chê càng.
Thì ngày sau đừng có trách than,
Những tội lỗi của mình tạo lấy.
Bị háo thắng việc người không thấy,
Rồi mảng lo gièm siểm nhiều lời.
Vì vậy nên tình nghĩa xe lơi,
Đâu gần gũi mà tường diệu lý.
Trong Lục tỉnh ai là người trí,
Mau thức thời tìm Đạo nhiệm sâu.
Khuyên dân đừng chia rẽ áo bâu,
Phải hợp tác gieo trồng giống quí.
Coi rồi phải thân mình tự trị,
Chẳng độ xong Phật khó dắt dìu.
Thả thuyền Từ bến Giác nâng niu,
Kẻ hiểu Đạo mau mau bước xuống.
Việc trải qua như mây gió cuốn,
Nhìn cuộc đời ngày tháng thoi đưa.
Trời sáng ra kế lại thấy trưa,
Năm cũ đó rồi qua năm mới.
Mười hai tháng mà còn mau tới,
Thì tuồng đời cũng chóng đổi thay.
Chữ phù vân phú quí nay mai,
Luân với chuyển dời qua đổi lại.
Cõi Ta Bà mấy ai tồn tại,
Sống dư trăm như tuổi lão Bành.
Đời Hạ Ngươn hay chết tuổi xanh,
Như thuở trước Nhan Hồi còn trẻ.
Miễn cho được ngày hai cơm tẻ,
Buổi bần hàn đặng có tu thân.
Nhờ ơn Trời ban bố đức ân,
Xem chung cuộc Phong Thần tại thế.
Xử những kẻ hung hăng tồi tệ,
Thưởng những người trung nghĩa vẹn tòan.
Ra kệ này hai chữ bảo an,
Cho trần thế được tâm thanh tịnh.
Ngọc báu quí ẩn trong Nam đỉnh,
Muốn tìm kim đáy biển gắng công.
Thấy dân tình luống những ước mong,
Gặp giống tốt hãy mau cày cấy.
Ai có nói Ta là người quấy,
Ta cũng cam bụng chịu tiếng đời.
Tỏ ít câu cầu chúc cho đời,
Mong bá tánh vạn dân giải thoát.

Hòa Hảo, ngày 20 tháng 9 năm Kỷ mão (1939)
 
132  PHẬT GIÁO HÒA HẢO / SẤM GIẢNG GIÁO LÝ / Quyển 5: Khuyến Thiện vào lúc: 03/15/09


Download MP3
Lổi bị hát không được đã sửa 4/17/2010


Quyển V: KHUYẾN THIỆN - Lời Khuyến Thiện Của Ông "Vô Danh Cư Sĩ"

Đây là quyển thứ năm mà Đức Thầy đã viết năm 1941 tại Chợ-Quán (756 câu)




  Nội-dung, Ðức Giáo-Chủ:

  Nhắc tiểu-sử Ðức Thích-Ca (Nguyên Nhân Phật Giáo)

  Luận giảng về:
                              tám sự khổ trong cõi Ta-bà
                              pháp môn tịnh độ
                              cách diệt ngũ-trược
                              trừ thập ác và hành thập thiện.



Băng tâm khẩu hứng thừa nhàn,
Theo đòi nghiên bút luận bàn tục, Tiên.
Ta là cư sĩ canh điền,
Lo nghề cày cuốc cũng chuyên tu hành.
Xa nơi tranh đấu lợi danh,
Giữ lòng thanh tịnh tánh lành trau tria.
Gắng công trì niệm sớm khuya,
Thân tuy còn tục tâm lìa cõi mê.
Chí toan gieo giống Bồ Đề,
Kiếm người lương thiện dắt về Tây Phang.
Dạy khuyên những kẻ ngỗ ngang,
Biết câu Lục tự gìn đàng Tứ ân.
Ở trần xử trọn nghĩa nhân,
Quyết làm tôi Phật gởi thân Liên Đài.
Cầu cho mối đạo hoằng khai,
Cầu cho trăm họ Bồng Lai được gần.
Sớm về cõi Phật an thân,
Kẻo kiếp phong trần dày gió dạn sương.
Phật đài phưởng phất mùi hương,
Cúi đầu đảnh lễ cậy nương đức mầu.
Từ Bi oai lực nhiệm sâu,
Độ con thoát chốn ưu sầu trần ai.
Nam mô Thích Ca Như Lai,
Ta Bà Giáo Chủ xin Ngài chứng minh.
Dưới đây lược tả sách kinh,
Cho trong nam nữ hữu tình thì coi.
Lời lành của Phật truyền roi,
Đọc qua suy nghiệm xét soi chánh tà.


THI

Tiếng kệ từ bi quá diệu trầm,
Diệt lòng tham vọng, diệt thinh âm.
Trần gian say đắm theo màu sắc,
Tịnh độ giác thuyền trị dục tâm.
Phải rõ nghiệp duyên trần cấu tạo,
Nghe rành chánh pháp thoát tà dâm.
Phù sanh nhược mộng đời lao khổ,
Tỉnh trí tu thân khỏi lạc lầm.

Hào quang chư Phật rọi mười phương,
Đạo pháp xem qua chớ gọi thường.
Chuyên chú nghĩ suy từng nét dấu,
Cố công gìn giữ tánh thuần lương.


KỆ

Lòng quảng ái xót thương nhân chúng,
Buổi lố lăng Phật Giáo suy đồi.
Kẻ tu hành ai nở yên ngồi,
Mà sớm kệ chiều kinh thong thả.
Mình đã gặp con thuyền Bát Nhã,
Có lý nào ích kỷ tu thân ?
Phật tổ xưa còn ở nơi trần,
Ngài gắng sức ra công hoằng hóa.
Nền Đại Đạo lưu thông khắp cả,
Bực tiên hiền đều trọng Phật gia.
Rèn dân bằng giáo thuyết bình hòa,
Giống bác ai gieo sâu vô tận.
Sau nhằm buổi phong trào tân tấn,
Đua chen theo vật chất văn minh.
Nên ít người khảo xét kệ kinh,
Được dắt chúng hữu tình thoát khổ.
Thêm còn bị lắm phen giông tố,
Lời tà tư ngoại đạo gieo vào.
Cho nhơn sanh trong dạ núng nao,
Chẳng gìn chặt gương xưa mạnh mẽ.
Dùng thế lực dùng nhiều mánh khóe,
Cám dỗ người đặng có khiến sai.
Chúng nằm không hưởng của hoạnh tài,
Để khốn khổ mặc ai trối kệ.
Mắt thấy rõ những điều tồi tệ,
Tai thường nghe lắm giọng ru người.
Thêm thời nầy thế kỷ hai mươi,
Cố xô xệp thần (thánh) quyền cho hết.
Người nhẹ dạ nghe qua mê mết,
Rằng: nên dùng sức mạnh cạnh tranh.
Được lợi quyền lại được vang danh,
Bài xích kẻ tu hành tác phước.
Làn sóng ấy nhiều người đón rước,
Dục dân tâm sôi nổi tràn trề.
Cổ tục nhà phỉ báng khinh chê,
Cho tôn giáo là mùi thuốc phiện.
Ai nếm vào ắt là phải nghiện,
Chẳng còn lo trang võ đấu chinh.
Lấy sắc thân dẹp nỗi bất bình,
Bỏ đức tính của câu nhơn quả.
Dầu ai có bền gan sắt đá,
Cũng động lòng trước cảnh ngửa nghiêng.
Đạo diệu mầu gặp lúc truân chuyên,
Phận môn đệ phải lo vun quén.
Tằm sức nhỏ còn làm nên kén,
Người không lo có thẹn hay chăng?
Cả tiếng kêu cùng khắp chư tăng,
Với tín nữ thiện nam Phật Giáo.
Nên cố gắng trau thân gìn Đạo,
Hiệp cùng nhau truyền bá kinh lành.
Làm cho đời hiểu rõ thinh danh,
Công đức Phật từ bi vô lượng.
Đồng dẹp bớt âm thinh sắc tướng,
Lo chấn hưng Phật Pháp mới là.
Nói cho đời hiểu Phật Thích Ca,
Lòng tự giác xả thân tầm Đạo.
Ta cũng chẳng hoàn toàn thông thạo,
Nhưng phân cùng bổn đạo xa gần.
Có một điều già trẻ ân cần,
Là phải biết nguyên nhân Phật Giáo.
Hồi thế kỷ khoảng trong thứ sáu,
Trước kỷ nguyên Tây lịch thời xưa.
Pháp Giáo chưa biệt lập tam thừa,
Thuở Trung Quốc nhà Châu Chiêu Đế.
Bên Ấn Độ thành Ca Tỳ La Vệ,
Có đức vua Tịnh Phạn nhơn từ.
Khắp thần dân lạc nghiệp an cư,
Trên chúa thẳng tôi ngay phò tá.
Đức Hoàng Hậu Ma Da phong nhã,
Sắc đẹp dường ngọc thốt hoa cười.
Một hôm kia vẻ mặt vui tươi,
Đến trước bệ tâu cùng thánh thượng.
Rằng: Thần thiếp nhờ ơn chung hưởng,
Của Hoàng gia cũng được vinh quang.
Kể từ nay thiếp muốn an nhàn,
Dưỡng tâm trí dần xa thế trược.
Chẳng phiền kẻ hầu sau đón trước,
Chỉ trừ người ý hiệp tâm đầu.
Xin một điều ở chốn long lâu,
Tập đức tánh khoan dung đại độ.
Tránh tất cả những điều thô lỗ,
Chẳng ưa gần những kẻ ngang tàng.
Thiếp cúi đầu ngưỡng vọng Thiên Nhan,
Phê cho thiếp những điều xin ấy.
Vua nghe xong vội vàng đứng dậy,
Bèn chuẩn y tỏ ý vừa lòng.
Bà tâu thêm ở trước đền rồng,
Xin thánh thượng bao dung kẻ khó.
Lòng yêu dân ví như con đỏ,
Tội giảm tha, đói giúp cơm tiền.
Cứu dân nghèo trong lúc đảo điên,
Lấy đức rộng bủa trong bá tánh.
Vua hứa chịu giúp người đói lạnh,
Bà lui về cung điện nghỉ ngơi.
Đêm trăng thanh gió mát thảnh thơi,
Tiết hòa thuận khắp nơi hoa nở.
Đức Hoàng Hậu trong lòng hớn hở,
Giấc chiêm bao bà thấy lạ lùng.
Bạch tượng từ ở chốn không trung,
Bỗng sa xuống mình bà hối hả.
Vừa tỉnh giấc mơ tiên mới lạ,
Khắp phòng huê thơm phức mùi hương.
Bà rảo chơn bèn bước ra vườn,
Truyền thị vệ thỉnh vua lai đáo.
Vua y lời đến nơi hoa thảo,
Lại gần Bà sao rất quái kỳ.
Tay chơn bèn run rẩy một khi,
Muốn quì xuống mắt dường tăm tối.
Tiếng Thần Tiên trên không ca trổi,
Rằng ta mừng vua hữu thiện căn.
Sắp có con thế giới chẳng bằng,
Sau người đó lập nên Đạo cả.
Vua nghe xong cuối đầu bái tạ,
Liền phán cùng hoàng hậu Ma Da.
Có việc chi vội vã dời ta,
Khá nói lại đầu đuôi tường tất.
Bà thuật lại chiêm bao trong giấc,
Xin vui vời ít kẻ bàn giùm.
Các thầy bàn được lịnh vào cung,
Nghe xong xả tâu rằng điềm quí.
Ngày thắm thoát đông qua hạ chí,
Bà trổ sanh thái tử đẹp tươi.
Mặt trang nghiệm khí phách hơn người,
Vua cùng khắp thần dân mừng rỡ.
Họ Thích Ca từ đây cũng ngỡ,
Sẽ có người nối nghiệp hoàng gia.
Liền đặt tên là Sĩ Đạt Ta,
Cả triều chính treo hoa yến ẩm.
Có nhà sư cách thành mấy dặm,
Thường ở ăn trong sạch hiền từ.
Lòng thẳng ngay chẳng có vị tư,
Đời thanh tịnh gìn theo đạo lý.
Ông lại được Thần Tiên dẫn chỉ,
Hiểu thiên cơ thấu mối diệu huyền.
Ông là người Bà- la- môn tiên,
A Tư Đà tiên hiền tên lão.
Thời buổi ấy vua ưa người Đạo,
Bèn vào chầu tâu trước bệ rồng.
Xin vua cho ông được vào trong,
Được yết kiến tử hoàng luôn thể.
Ông xem xong bỗng liền sa lệ,
Vẻ mặt buồn chẳng thốt ra lời.
Thấy lạ lùng vua bước đến nơi,
Liền phán hỏi bảo ông phân rõ.
Trước cung điện ông liền bày tỏ,
Rằng tử hoàng vừa được thành nhơn.
Lìa đền đài khổ cực chẳng sờn,
Tìm Đạo lý dắt dìu sanh chúng.
Ngài sẽ được thế gian ca tụng,
Chắc phần Ngài quả Phật vẹn tròn.
Buồn vì tôi tuổi lớn sức mòn,
Chẳng sống đặng nghe lời Phật thuyết.
Cả hồng trần đau thương thống thiết,
Nhờ Ngài mà diệt nẻo luân hồi.
Vô phước nên tủi bấy phận tôi,
Chớ chẳng có điều chi lo ngại.
Đức hòang hậu đến ngày thứ bảy,
Dứt nợ trần nên vội qui tiên.
Có bà dì thay thế mẹ hiền,
Giùm săn sóc trông nom thái tử.
Khi lớn lên cho người dạy chữ,
Lúc vào trường chẳng học mà thông.
Buổi trưởng thành vua vẫn hằng mong,
Cho Thái tử đừng lìa cung điện.
Hội triều đình các quan lựa tuyển,
Nàng Du Gia được chọn kết hôn.
Vua nghĩ rằng muốn tâm yên ổn,
Chọn cung phi mỹ nữ làm trò.
Cất đền đài lộng lẫy đẹp to,
Ngày ca múa đêm bày lơi lả.
Lòng thái tử cũng không xiêu ngả,
Ra khỏi đền du ngọan một khi.
Buổi đầu tiên gặp những chuyện gì,
Gặp cụ lão tay nương gậy chống.
Ngài xem qua lòng bèn cảm động,
Lần thứ hai thấy kẻ ốm đau.
Xét cõi trần lòng dạ héo xào,
Chi xiết nỗ núng nao cõi tạm.
Lần thứ ba xe lìa khỏi trạm,
Được trông nhìn kẻ chết đang khiêng.
Về đền đài cảm xúc buồn riêng,
Hằng để trí tầm phương giải thoát.
Lần thứ tư vừa đi dạo mát,
Bỗng gặp người tốt đẹp trang nghiêm.
Nào dè đâu Trời đã ứng điềm,
Giả tăng sĩ gọi lòng thái tử.
Ngài hiểu rõ ấy là phận sự,
Phải xuất gia tầm Đạo mau mau.
Liền quày xe trở lại lai trào,
Xin Vương phụ lánh xa mùi thế.
Vua buồn thảm dùng lời khóc kể,
Rằng: Cha già biết cậy nhờ ai.
Khuyên con nên ở chốn điện đài,
Lo nối nghiệp sau tu chẳng muộn.
Lòng thái tử quyết theo ý muốn,
Thừa đêm khuya lén trốn vào rừng.
Lìa cha già, vợ đẹp, con cưng,
Thân chẳng sá xông pha bờ bụi.
Ngài thuở ấy lên mười chín tuổi,
Tâm đại hùng cương quyết tu trì.
Trải bao phen lao khổ xiết chi,
Sau Ngài đến Rạch Ni Liên Thuyền.
Thấy cỏ hoa cảnh bắt tham thiền,
Ngồi khổ hạnh sáu năm bên ấy.
Đạo gần đắc Ma vương theo khuấy,
Dùng thần thông nghị lực dẹp tan.
Ấy mới vừa đắc Đạo hoàn toàn,
Và lần bước phô trương độ chúng.
Ngài bèn xét ở trong Phật chủng,
Các chúng sanh đều có như ta.
Bị vô minh vọng tưởng vạy tà,
Nên quây lộn ta bà cõi khổ.
Lòng thương chúng thuyết phương Tịnh độ,
Đặng dắt dìu tất cả chúng sanh.
Nếu như ai cố chí làm lành,
Chuyên niệm Phật cầu sanh Phật Quốc.
Cả vũ trụ khắp cùng vạn vật,
Dầu Tiên, Phàm, Ma, Quỉ, Súc Sanh.
Cứ nhứt tâm tín, nguyện, phụng hành
Được cứu cánh về nơi an dưỡng.
Chỉ một kiếp Tây Phương hồi hướng,
Thoát mê đồ dứt cuộc luân hồi.
Xét cõi trần sống khổ giạt trôi,
Vô lượng thứ ở trong thế giới.
Lời Phật thuyết ta xin nhắc lại,
Ta bà khổ, ta bà lắm khổ.
Có bao người xét cho tột chỗ,
Tịnh độ vui, Tịnh độ nhàn vui,
Cảnh thanh minh sen báu nặc mùi,
Nào ai rõ cái vui triệt đáo.
Vì phần Ta rất yêu mến Đạo,
Chẳng nệ chi trí siển tài sơ.
Lấy lời xưa kết lại ít tờ,
Cho thiện tín rỗi nhàn xem xét.
Dứt tâm mê dứt điều hờn ghét,
Rán cần chuyên niệm Phật làm lành.
Thường trau giồi chí hướng cao thanh,
Cho khỏi thẹn con lành Phật Giáo.
Đức Thích Ca từ xưa dạy bảo:
Khổ ta bà nhiếp lại tám phần.
Bởi chúng sanh mang lấy xác thân,
Khổ thứ nhứt sự Sanh là gốc.
Vào bụng mẹ chung quanh bao bọc,
Có khác nào ở chốn ngục tù.
Buổi mẹ đau huyết kiệt hình thu.
Lúc mẹ đói dường treo lỏng bỏng.
Ta kể sơ những điều bi thống,
Mẹ no cơm chật chội khó khăn.
Khi ra đời đau đớn vô ngần,
Cất tiếng khóc nếm mùi dương thế.
Đọan Lão Khổ thứ nhì nên kể,
Từ trẻ thơ đến tuổi thành nhân.
Hết tráng cường đến lúc mòn thân,
Răng lần rụng lưng cong gối mỏi.
Nằm đi đứng đỡ nưng chống chỏi,
Thử nghỉ coi lao nhọc cùng chăng?
Đọan thứ ba ma Bịnh làm nhăng,
Đem hình phạt xác thân ô uế.
Bởi thời thế chuyển xoay biến thể,
Thêm uống ăn chẳng được điều hòa.
Là nguyên nhân căn bịnh phát ra,
Thân trằn trọc hôn mê nhức nhối.
Cơn bịnh họan càng không tránh nỗi,
Còn mang thêm tật nọ tật kia.
Rồi từ đây đến lúc chia lìa,
Đọan Tử khổ thứ tư phân giải.
Trên dương thế hữu tình tắc hoại,
Có sanh ra khổ hải đâu chừa.
Trải bao phen dãi gió dầm mưa,
Ngày kiệt sức huyễn thân tan nát.
Gần hấp hối tâm thần xao xác,
Trí vẩn vơ kinh sợ vô cùng.
Rồi mòn lần đến lúc lâm chung,
Giả cõi tạm theo đường tội phước.
Nhiều phương thuốc ngừa sau ngăn trước,
Mà cũng không thoát luận tuần huờn.
Dầu ẩn nơi cùng cốc thâm sơn,
Chẳng trốn lánh tử thần cho khỏi.
Đọan thứ năm nghĩ suy tìm tỏi,
Cầu chẳng thành những việc thích ham.
Người trên đời ai cũng lòng tham,
Muốn phước, thọ,phẩm, hàm, tiền của.
Nào vợ đẹp, hầu xinh là lụa,
Không được thì bực tức ưu phiền.
Cả tâm thần điêu đứng đảo điên,
Vậy có phải khổ hay là chẳng?
Đọan thứ sáu Biệt Ly cai đắng,
Người mình thương bỗng lại chia lìa.
Khi khóc than nước mắt đầm đìa,
Lúc trông nhớ ruột tầm chua xót.
Ở thế gian mấy ai thoát lọt,
Nợ gia đình đeo đắm căn duyên.
Cơn nguy nghèo thân thể truân chuyên,
Kẻ lưu lạc người chờ trông mãi.
Cuộc tan hiệp, hiệp tan ân ái,
Đến xong đời để lại sầu ưu.
Cái khổ nầy dầu lắm trí mưu,
Cũng chung chịu như người tâm tối.
Đọan thứ bảy khổ Oan Tắng Hội,
Hễ thương nhau tất có ghét nhau.
Thường tranh đua tiếng thấp lời cao,
Chẳng nhẩn nhịn thành ra cừu oán.
Muốn tránh xa đừng trông tâm dạng,
Cứ gặp nhau mắt tưạ kim châm.
Làm cho người đau đớn âm thầm,
Khổ như thế diễn ra mãi mãi.
Đọan thứ tám ưu sầu lo ngại,
Cuộc tan thương dâu bể cảnh trần.
Nghèo thì lo một nỗi nợ nần,
Lo đau đói liệu cơn nhà rách.
Buồn duyên số phận mình nhơ sạch,
Rầu gia đình chúng bạn khinh cười.
Giàu thì lo chen lấn với người,
Miễn cho được đầy rương đầy tủ.
Của dương hế góp tom bảo thủ,
Sợ gian phi trộm cướp rình mò.
Lo tước quyền cho được thơm tho,
Sợ kẻ khó thiếu tiền chẳng trả.
Ôi! cả sang hèn chẳng ai thông thả,
Sau nhơn sanh cứ mãi đắm say.
Chẳng tu thân đặng dựa Phật Đài,
Cho thong thả hưởng mùi sen báu.
Thần thức nhập Thai sen tinh hảo,
Nên khỏi màng lo nỗi khổ sanh.
Thân thì thân công đức hiền lành,
Bất di dịch khỏi vì khổ lão.
Thể thanh tịnh thường không huyên náo,
Hết lo toan nắng lạnh gió mưa.
Khổ bịnh kia bởi đó mà chừa,
Ta thóat cuộc lao đao vì nó.
Đường sanh mạng Phật, ta đồng thọ,
Tánh an nhiên bất diệt trường tồn.
Tử thần kia đâu dám dắt hồn,
Thoát luân chuyển khỏi đeo khổ tử.
Cuộc y thực muốn chi đủ thứ,
Không nhọc nhằn lo việc sanh nhai.
Trí yên nhàn nhìn cảnh Phật Đài,
Khỏi quả khổ mưu cầu bất đắc.
Cả hải chúng thảy đều vững chắc,
Toàn dân lành đâu có đắn đo.
Dứt ái ân quyến thuộc chuyện trò,
Thoát sống khổ thương yêu, ly biệt.
Chữ hòa thuận kể sao cho siết,
Tâm đồng nhau thượng thiện vui vầy.
Cảnh như như chẳng có đổi thay,
Không màng biết phân chia nhơn ngã.
Sẵn vị ngôi rành phân thượng hạ,
Khỏi khổ câu oán ghét gặp nhau.
Thân tâm thường trụ hết rạt rào,
Chất thô trược tiêu tan mất cả.
Cõi Tịnh độ lắm điều thanh nhã,
Khổ, buồn, rầu, lo, sợ chẳng còn.
Chốn Ta bà tim lụn dầu mòn,
Thân tứ đại của người cũng thế.
Mau thức tỉnh tu thân kẻo trể,
Đến tội rồi mới hối muộn màng.
Chi cho bằng ta sớm lo toan,
Gìn giới luật nghe kinh trọng Phật.
Đến lâm chung quả lành đâu mất,
Cõi Tây Phương chư Phật đợi chờ.
Việc tu thân thiện chí hẫng hờ,
Chừng họa đến e cho khó tránh.
Môn Tịnh độ là phương cứu cánh,
Rán phụng hành kẻo phụ Phật xưa.
Lòng từ bi chẳng quản nắng mưa,
Xông thuyền giác rước đưa sanh chúng.
Trong một nước nhân tài hữu dụng,
Kẻ tu hành đa phước thì nên.
Quyết trau thân tánh hạnh cho bền,
Niềm ơn nghĩa toan đền dứt nợ.
Ao sen báu Tây phương đua nở,
Chờ chúng sanh niệm Phật chí tâm.
Rán tu cho quỉ khiếp thần khâm,
Được tâm phát Bồ Đề vững chắc.
Giữ đừng cho Ma Vương dẫn dắt,
Thường nhớ câu Đại Lực Đại Hùng.
Thắng Thất Tình giữ vẹn Đạo Trung,
Trừ Lục Dục chớ cho ô nhiễm.
Thập Tam Ma diệt bằng trí kiếm,
Rứt xong rồi vô sự thảnh thơi.
Biển hồng trần lao lý diệu vơi,
Xô đẩy mãi trong vòng Ngũ Trược.
Thân hôi tanh muỗi ruồi đón rước,
Thêm nhọt u, ghẻ lác,phong cùi.
Đâu lúc nào tòan vẹn yên vui,
Là Kiếp Trược Ta xin kể trước.
Dòm việc quấy ngắm điều bạo ngược,
Mắt trông vào những chỗ đê hèn.
Nào được xem cảnh báu đài sen,
Nghĩa Kiến Trược giải ra như vậy.
Trí vẩn vơ tưởng đó nhớ đây,
Thiết mưu kế toan bề thắng thối.
Ghi thù óan chưởng điều đáp đối,
Nên ma Phiền Não Trược đắm say.
Chuyển luân trong nhân vật các loài,
Căn mờ ám làm điều dại dột.
Chúng Sanh Trược, Ta đà kể nốt,
Còn thứ năm là Mạng Trược Trung.
Số giàu sang, họa phước, bần cùng,
Giàu hoa nguyệt thung dung cẩu thả.
Ưa đẹp mắt mến điều mới lạ,
Sang oai quyền, hối lộ gần xa.
Nghèo a dua, bợ đỡ nịnh tà,
Khó trộm cướp cũng là nhơ xấu.
Nguyện cùng Phật dứt duyên trần cấu,
Phải trừ thêm Thập Ác huyễn thân.
Khuyên nữ nam suy nghiệm ân cần,
Ác nơi khẩu nhứt là Lưỡng Thiệt.
Với người nầy dùng lời tha thiết,
Đến kẻ kia đâm thọc cho gây.
Khá chừa đi hương đảng bớt rầy,
Dùng sự thiệt giải bày tâm trí.
Người chỏang nhau tại mình gia vị,
Mà cũng không hưởng được lợi danh.
Sau rõ ra chúng lại ghét ganh,
Chiêu cảm quả bất lành thêm nữa.
Ác thứ nhì Ỷ Ngôn chất chứa,
Đợi cho người lầm lỗi xéo vày.
Của tiền nhiều tự phụ rằng hay,
Chủ ỷ thế nhiếc xài kẻ dưới.
Lắt léo chi có ba tấc lưỡi,
Quan ỷ khôn mạt sát dân ngu.
Nghèo ỷ lanh láo xược lu bù,
Ôi! thấy thế lòng đau tợ cắt.
Khuyên bá tánh giữ gìn cho chặt,
Đừng để cho quỉ dắt đường cong.
Dùng từ ngôn nói tận đáy lòng,
Dầu trên dưới cũng không mấy khác.
Chúng vô phước đời nầy dốt nát,
Người khôn ngoan chỉ dẫn mới là.
Lời trang nghiêm êm ái thốt ra,
Đừng bao biếm mới là nhơn thiện.
Tới Ác Khẩu thứ ba bày biện,
Tiếng tục tằng thô lỗ hung hăng.
Nào chưởi cha mắng mẹ lăng xăng,
Chẳng kể đến luân thường thảo hiếu.
Hăm đánh giết những người hèn yếu,
Hiếp xóm chòm cô bác chẳng kiêng.
Trong gia đình chưởi rủa liên miên,
Hết dương thế kê sang Thần Thánh.
Chẳng kiêng nể Phật Trời thượng cảnh,
Cõi Long cung mời thỉnh tối ngày.
Đời ám u tội trạng thảm thay,
Khuyên bá tánh bá gia rán bỏ.
Gương tổ phụ còn roi lại đó,
Sau không theo nề nếp gia phong.
Chư Thánh Thần đâu có mất lòng,
Mà kêu réo Đông, Tây, Nam, Bắc?
Mấy câu trên toàn là ròng rặc,
Những đàn bà khe khắt cháu con.
133  PHẬT GIÁO HÒA HẢO / LỊCH SỬ / Lịch Sử Và Sự Phát Triển Của Phật Giáo Hòa Hảo vào lúc: 03/08/09
LỊCH SỬ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO

I.- VỊ-TRÍ ĐỊA-DƯ

Nền Đạo Phật-Giáo Hòa-Hảo được khai sáng tại làng Hòa-Hảo, quận Tân-Châu, Tỉnh Châu-Đốc, Nước Việt-Nam, vào thời đó phát-triển mạnh ở Miền Tây Nam-Việt, nhứt là tại các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Kiên Giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau và Thành phố Sài Gòn.

Đặc biệt đây là những tỉnh đồng-bằng thuộc châu-thổ sông Cửu-Long, giáp giới nước Cao-Miên được mệnh danh là vựa lúa của Việt-Nam. Nhờ sự phì-nhiêu của đất đai, vùng này có khả năng vĩ-đại về nông nghiệp, và có một vai trò căn-bản trong nền kinh-tế nông-nghiệp hiện nay của nước Việt-Nam.

Riêng vùng này, gọi chung là Miền Tây hay Đồng Bằng Sông Cửu Long, ngày nay gồm 12 tỉnh là : Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Kiên Giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau với tổng diện tích canh tác lúa là 4,009,000 mẫu tây ; cây hoa màu : 4,500,000 mẫu tây. Tổng sản lượng hằng năm gần 16,000,000 tấn lúa (Thống Kê năm 1999) chưa kể những sản-phẩm hoa-mầu phụ, và ngư-nghiệp, chăn nuôi... Đại-đa-số gạo xuất cảng của Việt-Nam sang các nước cần mua mễ cốc, đã xuất phát tại vùng này.

II.- NGUỒN GỐC

Ngoài sự kiện kinh-tế trên đây, vùng này còn có một số dãy núi mà nhiều văn-kiện lịch-sử xưa nay đã lưu-truyền rằng tại đó chứa đựng nhiều điều huyền bí ly-kỳ, nhứt là bảy dãy núi Thất-Sơn tại biên giới tỉnh Châu-Đốc giáp xứ Cao-Miên.

Những điều huyền-bí đó lưu-truyền trong sách vở đến nay chưa ai cắt nghĩa được ngoài sự kiện cụ-thể là chính tại vùng Thất-sơn này đã phát-xuất, từ năm 1849 một vị Phật Sống tức Đức Phật-Thầy Tây-An, sáng lập tông-phái Bửu-Sơn Kỳ-Hương, và sau này vào năm 1939, cũng một vị Phật Sống khác là Đức Thầy Huỳnh-Phú-Sổ, tiếp nối truyền-thống Bửu-Sơn Kỳ-Hương mà khai sang mối đạo Phật-Giáo Hòa-Hảo, cũng tại một địa-điểm gần dẫy Thất-Sơn.

Tuy là Phật-Giáo Hòa-Hảo mới ra đời từ 1939 đến nay, nhưng đã có nguồn gốc tông-phái từ 1849, tức là trên một trăm năm nay.

Đức Phật Thầy Tây-An đã nổi danh khắp Miền Nam Việt-Nam, là một vị Phật Sống và một nhà ái-quốc, cũng như sau này Đức Huỳnh Giáo-Chủ Phật-Giáo Hòa-Hảo cũng được người Việt-Nam tôn sùng là một vị Phật Sống xuống thế cứu đời, đồng thời cũng là một nhà Cách-mạng quốc-gia chơn-chánh. (xin xem Tiểu-Sử và Giáo-Lý của Đức Huỳnh-giáo-chủ.)

III.- SỐ TÍN-ĐỒ PHẬT-GIÁO HÒA-HẢO

Tổng-số tín đồ P.G.H.H. được ước lượng vào khoảng trên 5 triệu người trong toàn quốc, đại diện là tỉ-số 38% trên tổng dân-số 16,133,434 người của Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Có những tỉnh như An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Bạc Liêu tín-đồ Phật-Giáo Hòa-Hảo lên đến 90% dân-số; ở các tỉnh khác, tỷ-số này thay đổi từ 10 đến 60%.

Nếu các tín-đồ Phật-Giáo Hòa-Hảo tham-gia các cuộc bầu-cử ứng-cử trong nhiệm-vụ đại-biểu nhân-dân, thì họ sẽ chiếm được đại đa số ghế. Tỷ-dụ trong cuộc bầu cử Hội-đồng hàng Tỉnh 1965, tại các tỉnh An-giang, Châu-Đốc, tất cả các đại-biểu nhân-dân đều là tín-đồ Phật-Giáo Hòa-Hảo; và tại các tỉnh Kiến-phong, Vĩnh-long, Phong-dinh, tín-đồ P.G.H.H. đã chiếm 80% số ghế. Tỷ-số này cũng đã được thể hiện trong cuộc bầu cử Quốc-Hội Lập-Hiến Việt-Nam Cộng-Hòa ngày 11-9-65, và liên danh đắc-cử nhiều phiếu nhứt trong toàn-quốc là liên danh của tín-đồ P.G.H.H. tỉnh An-giang.

IV.- ĐẶC-TÍNH PHẬT-GIÁO HÒA-HẢO

Hiện nay Phật-Giáo Hòa-Hảo là một trong số 4 tôn-giáo quan trọng nhứt ở Việt-Nam. Với khối quần-chúng trên 5 triệu người P.G.H.H. không những có tánh-chất của một khối quần-chúng tâm-lý sắt-son tin-tường nơi giáo-lý cao-siêu của Đức Huỳnh-giáo-chủ, mà còn thêm có tổ-chức thành hàng-ngũ, hệ-thống chặt-chẽ để chịu đựng mọi thử thách cam-go mà tự tồn và phát-triển.

ĐẶC TÍNH THỨ NHẤT : nằm trong truyền-thống Bửu-Sơn Kỳ-Hương đến Phật-Giáo Hòa-Hảo là một nền đạo Phật gần gũi với ĐẠO LÝ DÂN TỘC (NHÂN-HIẾU-TRUNG-NGHĨA)

Trên phương-diện Nhân-sinh và Xã-hội, người ta cũng nhận định rằng bản chất thuần phác của ngưởi nông-dân cho họ có căn-bản thuận-lợi để tu-học theo đạo Phật và thấm nhuần đạo lý làm người sống trong quan hệ với gia đình, xã hội, đất nước để rèn luyện trở thành những hạt giống tốt gieo trồng cho một tương lai toàn thiện, toàn mỹ sau này. Tuy gốc Đạo bám rễ trên tầng lớp nông dân nhưng từ đó các lớp tín hữu sau nhờ tiếp thu nền học vấn tiên tiến đã và đang vươn lên đến đỉnh trí tuệ để đóng góp cho đời bàn tay, khối óc của họ.

ĐẶC TÍNH THỨ HAI : Phật-Giáo Hòa-Hảo cũng như Bửu-Sơn Kỳ-Hương đều chủ-trương tu-hành tại-gia. Bởi vì các vị Giáo-chủ nay đã nghĩ rằng đạo Phật không những chỉ truyền-bá ỏ thiên-non mà còn phải phát-triển rộng-rãi đến mọi gia-đình.

Do đó các tín đồ P.G.H.H. không bắt buộc cạo đầu vào chùa, lìa bỏ mọi việc ngoài thế-gian, mà họ vẫn ở tại gia-đình, sống như mọi người công-dân khác, với nếp sống bình-dị trong nông-nghiệp, đồng thời tu hành theo giáo-lý Đức Thích-Ca.

Tôn-chỉ tu-hành của Phật-Giáo Hòa-Hảo là HỌC PHẬT TU NHÂN, tức là noi theo giáo-lý chơn-truyền của Đức Phật mà tu sửa con người, để vừa làm tròn bổn-phận trong cõi đời đang sống, vừa dọn thân-tâm cho trong sáng đề được siêu-thăng vào cõi Tịnh-độ Cực-lạc, giải-thoát khỏi vòng luân-hồi.

Để thi hành tôn-chỉ Học Phật Tu Nhân, người các tín đồ P.G.H.H. phải tích cực thực hiện Tứ-Ân, tức bốn điều ân lớn là:

    * Ân Tổ-Tiên Cha-mẹ
    * Ân Đất-Nước
    * Ân Tam-Bảo (Phật, Pháp, Tăng)
    * Ân đồng-bào nhơn-loại

(Xin xem Sấm Giảng quyển 6 do Đức Huỳnh Giáo-Chủ viết)

Cũng trong đường lối đó, người tín đồ P.G.H.H. đã tỏ ra tích cực tu-hành đồng thời cũng tích-cực hy-sinh vì đất nước, khi quốc-gia hữu-sự.

ĐẶC TÍNH THỨ BA : là sự canh-tân phương pháp hành-đạo nhằm loại trừ mọi hình thức rườm-rà mê-tín dị-đoan. Đặc tính canh-tân này có mục đích loại bỏ âm-thinh sắc-tướng để phát-dương phần tinh-túy của Đạo Phật, đúng theo chánh-pháp vô-vi của Đức Phật.

Đạo Phật-Giáo Hòa-Hảo chủ-trương canh-tân như sau:

Không cất chùa đúc tượng thêm, ngoài những ngôi chùa đã sẳn có. Ai giầu lòng từ-thiện thì nên phát tâm bố-thí, cứu-trợ kẻ nghèo-khổ, thì hơn là cất chùa lớn đúc tượng cao.

Không chấp nhận thầy cúng, thầy lễ, thấy bói, thầy phù-thủy, cũng không dâng cúng chè-xôi thực-phẩm cho Phật, vì Phật không dùng những của hối-lộ đó.

Không dùng cờ phướn, lầu kho, đốt giấy tiền vàng bạc, phí-tổn vô-ích . . .

Không khóc lóc hay làm linh đình lúc tang ma, mà chỉ im lặng cầu nguyện cho linh hồn kẻ chết được siêu thoát.

Không ép hôn, thách thức tiền cưới hay tiệc rượu linh-đình, vì sẽ mang nợ, gay hại về sau.

Tóm lại, giáo-pháp Vô-Vi Phật-Giáo Hòa-Hảo nhằm canh-tân phương-pháp hành-đạo để trở về với Giáo-lý chơn-truyền của-Đức Phật, là tu hành TÂM, chẳng phải ở hình-thức nghi-lễ bề ngoài.

V.- SỰ THỜ-PHƯỢNG CỦA PHẬT-GIÁO HÒA-HẢO

Trong chủ trương canh-tân nói trên, sự thờ-phượng trong nhà các tín-đồ Phật-Giáo Hòa-Hảo thật là giản-dị.

Trên bàn thờ, không có tượng Phật, không có chuông mõ. Chỉ có một tấm Trần bằng vải mầu dà, tượng trưng cho sự hòa-hợp nhơn-loại, và cho màu-sắc nhà thiền. Đó là bàn thờ Chủ Phật. Dưới bàn thờ Phật là bàn thờ Cửu-huyền Thất-Tổ, ông bà cha mẹ đã khuất. Trước nhà có một bàn thờ lộ-thiên (gọi la Bàn Thông-Thiên) để người tín-đồ cảm thông với Trời-Đất, bốn phương Trời, mười phương Phật.

Không dùng bất cứ thực phẩm nào kể cả trái cây, để cúng Phật, mà chỉ dùng nước lạnh, bông hoa, và nhang. Nước lạnh tượng trưng sự trong sạch, bông hoa tượng-trưng sự tinh-khiết và nhang làm át mùi uế-trược.

Mỗi ngày người tín-đồ P.G.H.H. làm lễ cúng Phật, ít nhứt hai lần, buổi sáng và buổi tối. Trong các ngày rằm, mồng một, ngày vía Chú Phật, họ đến chùa hay hội-quán hành lễ, và nghe kinh-giảng hay nghe thuyết-pháp.

Lúc hành lễ họ không dùng mõ chuông, mà chỉ lâm râm tâm-niệm. Khi nào mắc công việc thì đến giờ hành lễ họ quay mặt về hướng Tây mà cúng Phật, và khuyến khích nhau ngồi đâu, ở đâu cũng tụng niệm trong tâm.

Ngoài ra trong các Xã, Ấp có những độc-giảng-đường trang-bị máy phóng-thanh, đễ mỗi ngày trong những giờ nhứt định. có những giảng-viên đến đọc kinh giảng hay thuyết-pháp cho người chung quanh cũng nghe.

Độc Giảng Đường Phật-Giáo Hòa-Hảo là những ngôi chùa thâu-hẹp chỉ để truyền đạo, chứ không phải để cư-trú, nên nhỏ hơn chùa, bởi bản-chất Phật-Giáo Hòa-Hảo là cư-sĩ tại-gia.

Trước năm 1975, chỗ nào có nhiều tín đồ P.G.H.H. đều có độc-giảng-đường, với nét kiến-trúc đặc-biệt của Phật-Giáo Hòa-Hảo. Theo kiểm-kê 1965 có 390 Độc Giảng Đường P.G.H.H.

VI.- CỜ ĐẠO, HUY-HIỆU

Cờ đạo hình chữ nhựt màu dà, không có chữ hay hình tượng nào. Huy-hiệu P.G.H.H. hình tròn màu dà, bìa vàng trên có bông sen trắng, và bốn chữ tắt P.G.H.H.

VII.- THÁNH-ĐỊA

Thánh-địa Phật-Giáo Hòa-Hảo đặt tại làng Hòa-Hảo và Tổ Đình Phật Giáo Hòa Hảo là sanh-quán của Đức Huỳnh Giáo-chủ, và cũng là nơi khai sáng mối Đạo. Tại đây không có sự xây cất đồ-sộ, nhưng có một nếp sống đặc-biệt an-lạc, với không khí đạo-giáo.

VIII.- HỆ THỐNG TỔ-CHỨC

Đoàn thể Phật-Giáo Hòa-Hảo được quản-trị bỡi một hệ thống Ban-Trị-Sự. Các Ban-trị-sự được thiết lập từ mỗi Ấp, Xã, Quận, Tỉnh. Trên hết là một Hội-Đồng Trị-Sự Trung-ương. Mỗi Ấp chia làm nhiều chi-hội.

Nhờ một tổ chức chặt-chẽ và đi sâu vào tới hạ-tầng cơ-cở quần-chúng, nên sự điều-hành công-việc được chặt-chẽ, và các chỉ-thị được thi hành suốt từ Trung-Ương xuống đến chi-hội.

Nguyên tắc tổ-chức và điều-khiển là Dân-chủ tập trung, tức là:

BẦU CỬ - Các tín-đồ bầu-cử lựa chọn Đại-diện của mình vào các Ban-trị-sự Ấp. Sau đó các Ấp bầu Ban-Trị-Sự Xã, và các Ấp, Xã bầu Ban-trị-sự Quận, Tỉnh. Rồi tất cả Ấp, Xã, Quận, Tỉnh, bầu lên Hội-đồng Trị-sự Trung-ương

LÃNH-ĐẠO - Tổ đình Giáo Hội Phật Giáo Hòa-Hảo lo việc phụng tự và nghi lễ tại Thánh Địa Hòa-Hảo.

Nguyên tắc dân-chủ tập-trung làm cho các Trị-sự-viên được bầu có tính-chất đại-diện bởi đã được lựa chọn theo tiêu-chuẩn đạo-đức, nên đương-nhiên có uy-tín để điều-hành mọi việc. Do đó, giáo-quyền được tôn-trọng theo nguyên tắc hạ-cấp phục-tòng thượng-cấp.

Bên cạnh Hội-đồng Trị-sự Trung-ương có một Hội đồng Bảo-Pháp đặc-trách vấn-đề thi-hành kỹ-luật theo giới-điều của Đạo.

Trên hết có vị lãnh-đạo tinh-thần tối-cao là Đức Giáo-Chủ Huỳnh-Phú-Sổ, đại khai-sáng mối Đạo.

IX.- SINH-HOẠT

Phật-Giáo Hòa-Hảo được khai-sáng từ năm 1939. Lúc đó là thời-kỳ Việt-Nam lệ-thuộc nước Pháp, nên người Pháp nhiều lần đàn áp và ngăn chận sự truyền-đạo của Đức Huỳnh-giáo-chủ.

Đến khi quân đội Nhựt tiến chiếm Đông-Dương, nhà cầm quyền Nhựt tỏ ý muốn giúp đỡ các đòan thể quốc gia và tôn giáo để đòi lại chủ quyền trong tay người Pháp. Do đó, vào năm 1942, Đức Huỳnh-giáo-chủ được quân đội Nhựt giải-thoát khỏi tình-trạng biệt giam tại Bạc Liêu, và đưa Ngài về Saigon. Đức Huỳnh Giáo-chủ tuy cám ơn người Nhựt đã giải-thoát mình, nhưng vẫn một mực đòi hỏi chánh-phủ Nhựt hãy thật-sự giao trả chủ-quyền Việt-Nam cho dân-tộc Việt-Nam.

Năm 1945, đoàn-thể P.G.H.H. tổ chức kháng-chiến chống Pháp, và sau đó chống chế-độ độc-tài khủng bố do Cộng Sản Việt-minh chủ-trương.

Sau khi Đức Huỳnh Giáo Chủ bị mất tích từ 1947, Phật Giáo Hòa-Hảo được sự dẫn dắt của Đức ông Huỳnh Công Bộ, là thân sinh của Đức Huỳnh Giáo Chủ tiếp tục phát huy đạo pháp tại Tổ Đình Phật Giáo Hòa-Hảo - Thánh Địa xã Hòa-Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay trực thuộc tỉnh An Giang), là người chỉ đạo vừa quân sự lẫn giáo quyền trực thuộc Phật Giáo Hòa-Hảo.

Về quân sự chia làm 4 khu vực chính :

    * Tướng Trần Văn Soái (tự Năm Lửa) : Cái Vồn, Cần Thơ, và Vĩnh Long.
    * Tướng Nguyễn Giác Ngộ (ông Nguyễn) : Chợ Mới - An Giang.
    * Tướng Lê Quang Vinh : An Giang và Cần Thơ.
    * Tướng Lâm Thành Nguyên : Châu Đốc và Hà Tiên.

Về nhân sĩ dân sự : đặt dưới sự điều động của Đức Ông Huỳnh Công Bộ gồm các nhân sĩ tiêu biểu :

    * Lương Trọng Tường
    * Trần Văn Nhựt (tự Dật Sĩ)
    * Nguyễn Ngọc Tố
    * Nguyễn Văn Hầu
    * Luật sư Mai Văn Dậu v.v..


Sau khi hiệp-định Giơ-Neo ký kết, Ông Ngô-đình-Diệm chấp-chánh quyền hành tại Việt-Nam, và dưới chế-độ gia-đình-trị này, Phật-Giáo Hòa-Hảo cũng lại bị đàn-áp, không được tự-do sinh-hoạt.

Chỉ sau khi chế-độ này bị lật đổ ngày 1-11-63, Giáo-hội Phật-Giáo Hòa-Hảo mới có thời-cơ để tổ-chức lại hàng-ngũ tín-đồ và hệ-thống các Ban Trị Sự từ năm 1964 đến năm 1975.

Đức Ông Huỳnh Công Bộ lãnh đạo Tổ Đình Phật Giáo Hòa-Hảo từ năm 1947 đến năm 1961. Sau khi Đức Ông qua đời, Đức Bà Lê Thị Nhậm thay thế đảm nhận cương vị lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Hòa-Hảo (Hội Trưởng Danh Dự Tối Cao) . Đến 1967 Tổ Đình Phật Giáo Hòa-Hảo phải chịu đựng rất nhiều khó khăn mất mát. Nhân viên cán sự quan trọng của Tổ Đình bị bắt cóc và thủ tiêu, điển hình là ông Huỳnh Hữu Thiện (tự Ký Dữ), Trần Văn Tập v.v.. trong số 5 yếu nhân của Tổ Đình bị mật vụ chánh quyền Ngô Đình Diệm thủ tiêu. Dù vậy Tổ Đình Giáo Hội Phật Giáo Hòa-Hảo đã vượt hết mọi khó khăn bảo vệ được đoàn thể.

Khi biến cố lịch sử 1975 của đất nước xảy ra, các ban trị sự bị chính quyền giải tán và ngưng hoạt động. Tình trạng của giáo hội Phật Giáo Hòa-Hảo trở lại như thập niên 1950 ; trong nước duy nhứt chỉ còn tồn tại Tổ Đình Phật Giáo Hòa-Hảo do Cô Năm Huỳnh Thị Kim Biên (mất 1978 tại VN) là bào muội của Đức Huỳnh Giáo Chủ cùng gia đình thân tộc can đảm chịu đựng giai đoạn đen tối và khó khăn nhứt của Giáo sử.

Tổ Đình Giáo Hội PGHH đã bị cô lập và áp lực từ chính quyền trên mọi phương diện . Lấy hai chữ HÒA HẢO làm đầu, lãnh đạo Tổ Đình cương quyết giữ vững lập trường phi bạo lực, phi chính trị ; tránh tất cả nguyên nhân để Nhà nước vinh vào đó mà đàn áp gây thương vong cho tín đồ PGHH . Cho dù PGHH có được chính phủ do ai cầm đầu có hay không công nhận, cho hay không cho cho phép hoạt động, PGHH cùng Tổ Đình Phật Giáo Hòa Hảo vẫn tồn tại và đó là một thực thể bất biến và vĩnh hằng.

Trong phương thức HỌC PHẬT TU NHÂN, trên 5 triệu người tín-đồ P.G.H.H cư-sĩ tại-gia đồng thời với tu-sửa thân-tâm, lại còn đóng góp vào việc phát-triển nền kinh-tế nông-nghiệp của Việt-Nam. Hơn thế, khi quốc gia hữu-sự, tín-đồ P.G.H.H sẵn sàng hiến-dâng đời-sống hy sinh để bảo vệ Tổ-quốc và Đạo-nghĩa.

Mỗi năm đặc biệt trong ngày lễ Kỷ-niệm khai-sáng mối Đạo vào 18 tháng 5 âm lịch, các sự-kiện trên đây được thề-hiện trong tổ-chức đại-lễ nơi Thánh-địa Hòa-Hảo, và ở khắp vùng Hậu-giang.

X.- TRONG CỘNG-ĐỒNG PHẬT-GIÁO THẾ-GIỚI

Hiện nay Phật Giáo Hòa-Hảo là một trong số 4 tôn giáo quan trọng nhứt ở Việt Nam. Với khối quần chúng trên 5 triệu người, Phật Giáo Hòa-Hảo không những có tánh chất của một khối quần chúng tâm lý sắt son tin tưởng nơi giáo lý cao siêu của Đức Huỳnh Giáo-Chủ, mà còn thêm có tổ chức thành hàng ngũ, hệ thống chặt chẽ, để chịu đựng mọi thử thách cam go mà tự tồn và phát triển.

Trên bình-diện quốc-gia, Giáo-hội Phật-Giáo Hòa-Hảo là một hội-viên sáng-lập cùa Hội-Đồng Tôn-Giáo Việt-Nam, một cơ-quan đoàn-kết các tôn-giáo chánh-yếu như Thiên-Chúa-Giáo, Phật-Giáo, Phật-Giáo Hòa-Hảo, Cao-Đài-Giáo... Đồng thời đoàn thể P.G.H.H cũng tham gia các sanh hoạt quốc gia, đúng theo truyền-thống của một tôn-giáo dân-tộc. Ngoài ra, giáo-lý P.G.H.H. cũng đã được tiếp-nhận với nhiều cảm-tình bởi nhiều giới trí-thức Đông-Phương cũng như Tây-Phương.

Bởi vì, với một giáo-thuyết hòa-đồng tinh-hoa Tam-giáo, Phật-Giáo Hòa-Hảo đã phát-dương giáo-pháp chơn-truyền của Đức Thích-Ca Mâu-Ni làm căn-bản giáo-lý, lại thêm các tư-tường Nho-giáo, Lão-giáo, đã ăn sâu vào tập-tục dân-tộc Việt-Nam, để kết thành một hệ-thống tư-tưởng Đạo-học có đặc-thái dân-tộc Việt-Nam.

Với giáo-thuyết phong-phú ấy, Phật-Giáo Hòa-Hảo là một tổ-chức đang hướng dẫn một phần nhơn-loại dưới ánh sáng của Đức Phật, để đưa con người trong thế kỷ hiện-tại đến những giá-trị tinh-thần mới, hầu cùng với các Phật-tử Thế-giới và các Giáo-hội Phật-giáo khắp các quốc-gia, biểu-dương Đạo-Phật, cải tạo xã-hội, giải-thoát Con Người.

XI.- HỆ-THỐNG TỔ CHỨC

- Tổ Đình Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo
- Ban Trị Sự Phật Giáo Hòa Hảo

(Tài-liệu Báo PHƯƠNG-ĐÔNG số 23, xuất bản tháng 5/1973, do tác giả Hinh-Phương viết)

Tổ Đình Phật Giáo Hòa Hảo do các thành viên Huỳnh Tộc trông coi và thực hiện nhiệm vụ gìn giữ di tích lịch sử của Phật Giáo Hòa Hảo.

Tổ Đình là nơi tổ chức các nghi lễ lớn trong năm và cũng là nơi đã diễn ra cuộc lễ tấn phong Ban Trị Sự Trung Ương nhiệm kỳ I do ông Lương Trọng Tường được đề cử làm Hội Trưởng (29-11-1964).

XII.- HỆ-THỐNG BAN-TRỊ-SỰ

    - Hội-đồng Trị-sự Trung-Ương
    - Các Ban-Trị-Sự Tỉnh : An-giang, Châu-đốc, Sadec, Kiến-phong, Kiên-giang, Vĩnh-long, Phong-dinh, Bạc-liêu, Chương-thiện, An-Xuyên, Ba-Xuyên, Biên-hòa, Gia-định, Vĩnh-bình, Kiên-hòa, Kiên-tường, Lâm-đồng, Tuyên-đức, Ninh-Thuận, Phú-Yên, Bình-định, và liên tỉnh Long-an/Đinh-tường.
    - Các Ban-Trị-Sự Xã : Saigon, Cần-thơ, Mỹ-tho, Rạch-giá, Vũng-tàu, Đà-lạt
    - Các Ban-Trị-Sự trực thuộc Trung-ương : Thánh-địa Hòa-Hảo, Xã Thiện-từ
    - 82 Ban-Trị-Sự cấp Quận, 476 Ban-Trị-Sự cấp Xã, 3,100 Ban-Trị-Sự Ấp

XIII.- CƠ SỞ TU-VIỆN

    213 chùa-chiền, tu-viện
    468 độc-giảng-đường
    2,876 văn-phòng

XIV.- NHÂN-SỰ

    - Hội đồng Trị-sự Trung-ương gồm 23 người.
    - Các Ban-Trị-Sự gồm từ 10 đến 15 người.
    - 36,500 trị-sự-viên các cấp .
    - 2,679 tu sĩ và nhân viên tại các tu viện.
    - 6,086 độc giảng viên.
    - 10,000 nhân viên và khóa sinh ngành Phổ-thông giáo-lý.
134  PHẬT GIÁO HÒA HẢO / LỊCH SỬ / Tiểu Sử Của Đức Huỳnh Giáo Chủ vào lúc: 03/08/09


TIỂU SỬ CỦA ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ

CÔNG ĐỨC CỦA NGÀI ĐỐI VỚI ĐẠO PHẬT GIÁO HÒA HẢO VÀ TỔ QUỐC VIỆT NAM



* Đức Huỳnh Giáo Chủ: 1920 - 1947
* Phật Giáo Hòa Hảo: 1939 - ~
* Đức Giáo Chủ khai sáng đạo lúc 19 tuổi

Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ, người sáng lập ra Đạo Phật Giáo Hòa Hảo, sinh vào ngày 25 tháng 11 năm Kỷ Mùi, nhằm ngày 15 tháng giêng năm 1920 tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là tỉnh An Giang) gần biên giới Việt - Miên.

Ngài là người con trai cả của Đức Ông Huỳnh Công Bộ và Đức Bà Lê Thị Nhậm, một hương tộc nổi tiếng và được tôn kính bởi dân chúng khắp vùng .

Sau khi đậu cấp bằng Tiểu học tại Tân Châu, Đức Giáo Chủ vì đau yếu liên miên, đã phải thôi học . Với sự khá giả của gia đình, Ngài có thể có đủ điều kiện học đến cấp cao, nhưng vì sự bệnh hoạn nói trên, khiến ngài không tiếp tục được . Năm 15 tuổi, nhiều cơn sốt rét dữ dội phát sanh, làm cho Đức Giáo Chủ ngày càng gầy yếu, mất ăn mất ngủ . Chứng bịnh nầy còn thỉnh thoảng biến sanh nhiều hiện tượng khác làm cho thân hình Ngài trở nên tiều tụy da dẻ xanh gầy .

Đau lòng vì bịnh của con, Đức Ông và Đức Bà (thân phụ và thân mẫu của Đức Giáo Chủ) hết lòng lo phương cứu chữa . Nhưng bịnh vẫn hoàn bịnh .

Trong mấy năm từ 15 đến 21 tuổi , Đức Giáo Chủ mắc phải chứng bịnh trầm kha mà không một thầy thuốc Đông Y hay Tây Y nào trị được . Thì ra đó là cơ hội mà các đấng Thiêng Liêng dọn sửa phần xác thịt để Đức Giáo Chủ tiếp nhận những điển quang tinh anh mạnh mẽ sau nầy .

Kịp đến ngày 18 tháng 5 năm Kỹ Mão (1939), một ngày dáng ghi nhớ trong lịch sử cách mạng và đạo giáo nước nhà, một cuộc lễ vô cùng tôn nghiêm được cử hành tại Tổ Đình để cho Đức Giáo Chủ "Đền Linh Khứu sơn trung thọ mạng" .

Bấy giờ Đức Giáo Chủ được 21 tuổi . Mặc dù còn bịnh hoạn dây dưa, gương mặt Ngài trông vẫn đẹp đẽ khôi ngô và trí huệ Ngài trở nên dị thường tỏ ngỏ . Bắt đầu từ đó Ngài chữa bịnh thuyết pháp và sáng tác Thi Văn Kệ Giảng .

Từ tháng 5 năm 1936, nhiều bịnh tà, bịnh điên nan y, đã được đưa đến tận làng Hòa Hảo và được chữa khỏi, không khác nào Đức Chúa Giê Su hay Phật Thầy Tây An thuở trước đã chữa khỏi muôn vạn dân lành . Vì vậy mà số người đến xin trị bịnh càng lúc càng đông . Kẻ ở xa xôi tận miền Trung hoặc Sài Gòn, Chợ Lớn, cũng như người ở gần gũi miệt Sa Đéc, Cần Thơ đua nhau đến nhờ Ngài cứu chữa .

Phương pháp của Đức Giáo Chủ rất đơn giản . Tùy theo triệu chứng của bịnh nhân, Ngài khi thì nước lã, giấy vàng, lúc thì đưa bông trang, lá bưởi ....Một điều đáng để ý là mỗi khi trị bịnh cho người nào là Ngài khuyên họ nên niệm Phật tưởng Trời và vái van Thần Thánh bởi vì :

Thành lòng nước lã nên hồ,
Hữu tâm chí đức cam lồ Phật ban.

Số người được cứu sống kể sao cho xiết . Nhờ sự cứu bịnh đó của Ngài, Đức Giáo Chủ trong một thời gian ngắn khoảng một năm (1939-1940), đã thu hút được một số đông quay về ngưỡng mộ .

Thế mới hay Ngài đã thực hành phương pháp dự định trước kia là "dùng huyền diệu của Tiên Gia độ bịnh cho kẻ có căn lành nhờ được mạnh mà cảm lòng từ bi của Chư Vị với Trăm Quan" . Người ta đã cảm đức và ghi ân, nên đã trùng trùng quy y Phật Pháp .

Sau ngày "chịu lịnh Tây Phương thọ ký", tức 18-5 Kỷ Mão, Đức Giáo Chủ ít trầm mặc và nói nhiều hơn xưa . Gặp ai Ngài nói nấy . Ngài nói về sắc diện, tính tình và tương lai của người đối thoại để gần cuối câu chuyện, Ngài khuyên làm lành, lánh dữ và nên tin Phật, xem Kinh .

Ngài luôn luôn khiêm tốn trong cử chỉ, văn từ và rất mực bình dân, nhũn nhặn với bất cứ người thân sơ, cao thấp . Nhứt là đối với hạng người quyền thế Đức Giáo Chủ không hề có cử chỉ khúm núm hoặc dùng những tiếng "bẩm", tiếng "ngài" như thời lệ .

Biết bao người có khuynh hướng Cộng Sản đến chất vấn Giáo Chủ . Họ lấy làm khâm phục vì đã nói thấu ruột gan, và còn giải thích, biện luận rõ ràng để đánh đổ cái học thuyết Mácxit - Lênin mà người ta đang theo ấy .

Thế là trong số thập phương thiện tín tới viếng Giáo Chủ ngoài những người xin bùa, thỉnh thuốc, từ ấy lại có thêm nhiều người đến để, hoặc nghe Ngài giảng giải giáo lý nhiệm mầu, hoặc đọ sức thử tài xem coi sở kiến của Ngài có áp phục được họ chăng .

Trong số những tay cự phách của làng nho, cùng những tay quyền quý tân học đang làm việc cho Pháp đến với Ngài, ta có thể kể Chủ Quận Tân Châu, Chủ Quận Chợ Mới, y sĩ Nguyễn Kỳ Trân, thi sĩ Huỳnh Hiệp Hòa, Hương cả Đào-thành Đô và nhiều học giả đương thời khác . Những vị nầy sau một lần gặp Đức Giáo Chủ thì đều phục tài kính đức .

Một ký giả ở Sài Gòn, ông Hiên Sĩ, khi viết về Đức Giáo Chủ trong hơn 30 bài báo, có diễn tả tài hùng biện của Ngài bằng câu "thao thao bất tuyệt" và kết luận rằng Ngài đã "chiếm giải quán quân về phương diện diễn thuyết ".

Lại nữa, lời văn của Đức Giáo Chủ có mãnh lực hấp dẫn quần chúng một cách lạ thường nên thính giả nhiều khi mủi lòng rơi lụy, liền phát tâm tu hành theo Đạo .

Ai đã từng dõi gót theo Ngài trong cuộc khuyến nông năm 1945, trong vòng 2 tháng với không biết bao nhiêu lý luận khác nhau, đều phải công nhận Ngài là bậc "mồm sông bút sấm" .

Những cuộc thuyết pháp kể trên, nếu cộng với 107 lần chu du khuyến nông thuyết giáo trên gần khắp miền Nam năm 1945, chúng ta có thể nói Ngài đã trải qua trên một ngàn lần khuyến thuyết quan trọng với hằng ngàn đề tài khác biệt . Và nhờ những cuộc thuyết pháp này mà người mộ đạo quy căn, ngày càng đông thêm không xiết nói.

Nhưng công đức vĩ đại lớn nhất của Đức Huỳnh Giáo Chủ trong việc truyền giáo là việc viết ra Kệ Giảng . Nhờ Kệ Giảng đó mới được phổ truyền một cách sâu rộng chủ trương canh tân Phật Giáo của Ngài và nhờ đó mà hằng triệu người mộ đạo và quay về với chân tính, tự tâm .

Những tác phẩm của Đức Giáo Chủ viết ra, phần nhiều thuộc thể văn vần . Ngài viết, dầu tản văn hay vận văn, điều đáng để ý là khi cầm bút thì cứ viết thẳng một mạch, không dùng giấy nháp . Có thể kể những tác phẩm trường thiên sau đây của Đức Giáo Chủ:


1. Sấm Giảng Khuyên Người Đời Tu Niệm , tức quyển nhứt, văn lục bát, dài 910 câu xuất bản lần đầu năm 1939.

2. Kệ Dân của Người Khùng , tức quyển nhì, văn thất ngôn trường thiên, dài 846 câu, xuất bản lần đầu năm 1939.

3. Sám Giảng , tức quyển ba, văn lục bát dài 612 câu, xuất bản lần đầu năm 1939.

4. Giác Mê Tâm Kệ , tức quyển thứ tư, văn thất ngôn trường thiên, dài 846 câu, xuất bản lần đầu năm 1939.

5. Khuyến Thiện , tức cuốn thứ năm, đoạn nhứt và đoạn chót viết bằng lối lụt bát, đoạn giữa viết bằng lối thất ngôn, dài 756 câu, xuất bản lần đầu năm 1942.

6. Tôn-Chỉ Hành Đạo. Quyển này viết bằng văn xuôi, xuất bản lần đầu năm 1945 . Tuy văn xuôi, quyển này có một đặc sắc là giản dị mà lưu loát, âm hưởng du dương nhịp nhàng.


Ngoài sáu quyển vừa kể, Đức Giáo Chủ còn viết ra rất nhiều bài thi, bài văn gom góp để in thành một quyển nhan đề "Sưu Tập Thi Văn Giáo Lý của Đức Huỳnh Giáo Chủ".

Nhìn qua công đức truyền giáo của Đức Giáo Chủ, ta thấy trong một thời gian tuy không dài nhưng những điều Ngài đã thực hiện, bắt buộc những người dù cho khó tính tới đâu, cũng phải công nhận là vô cùng phong phú và vĩ đại .

Đó là đối với công cuộc truyền giáo . Đối với sự nghiệp Chánh Trị và công cuộc cứu quốc :

Trong khoảng thời gian từ 1940 đến 1942, vì sự tập hợp của các tín đồ thiện nam tín nữ đến nghe các cuộc thuyết pháp của Ngài và quy y theo đạo ngày càng đông , thực dân Pháp đã nhiều lần bắt giam Đức Giáo Chủ để theo dõi và giám sát ngôn ngữ, hành vi của Ngài . Năm 1942, Ngài được hiến binh Nhật giải thoát và tạm thời được an toàn để tiếp tục công cuộc liên lạc với các nhà ái quốc chân chính .

Năm 1943, Ngài nhận làm cố vấn cho Thanh Niên Ái Quốc Đoàn, sau đổi tên thành Việt Nam Ái Quốc Đảng . Cuối năm 1944, Ngài bí mật chỉ thị cho thanh niên PGHH thành lập Bảo An Đoàn ở một số tỉnh miền Tây . Tháng 3 năm 1945, Ngài thành lập VN Độc Lập Vận Động Hội vì Ngài nhận thấy thái độ chưa dứt khoát của người Nhật về vấn đề độc lập và thống nhất của VN . Tháng 10 năm ấy , Ngài liên kết với các lãnh tụ tôn giáo và đảng phái quốc gia thành lập Mật Trận Quốc Gia Thống Nhất . Mặt trận này quy tụ hầu hết các lực lượng tôn giáo, chánh trị, và trí thức Miền Nam, nên đã bị Trần Văn Giàu, lúc bấy giờ là Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ cùng đồng bọn Cộng Sản bao vây văn phòng PGHH ở góc đường Miche và Sohier . Tất cả nhân viên tại đây đều bị bắt . Đức Giáo Chủ cùng một số tín đồ thân cận vượt khỏi vòng vây lên xe đi về ngoại ô châu thành Biên Hòa, sau đó đến rừng chồi Long Thành, cuối cùng băng rừng vượt suối đến Cỏ Nay, thuộc tỉnh Bà Rịa , rồi rút sâu vào rừng chà là .

Đến năm 1946, Ngài bí mật trở về ẩn trú tại vùng Chợ Lớn, và sau tết nguyên đán năm Bính Tuất các tín đồ PGHH bắt đầu nối được liên lạc với Ngài . Tháng 4 năm 1946 Mặt trận quốc gia liên hiệp ra đời mà Đức Giáo Chủ là Chủ Tịch , trong đó quy tụ rất đông các lãnh tụ quốc gia .

Nhưng sau đó không lâu, Việt Minh lại dở ngón độc tài hạ lệnh giải tán mặt trận . Ngày 21 tháng 9, năm 1946 Đức Giáo Chủ thành lập Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng để có danh nghĩa tranh đấu cứu quốc, đồng thời kết nạp các phần tử quốc gia chân chính .

Tháng 10 năm 1946, sau nhiều lần Phạm Thiều theo chỉ thị Việt Minh, mời Đức Giáo Chủ tham chánh, Ngài đứng ra lãnh nhiệm vụ Ủy Viên Đặc Biệt trong Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ . Điều này chứng tỏ thiện chí của Ngài lúc nào cũng nghĩ tới quyền lợi tối thượng của Tổ quốc mà dẹp bỏ hiềm riêng . Nhưng Việt Minh đã phản bội, cho tái diễn những cuộc xô xát giữa họ và tín đồ PGHH tại miền Tây . Được tin nầy Đức Giáo Chủ đã rời miền Đông về miền Tây dàn xếp .

Ngày 16 tháng 4 năm 1947 (tức ngày 25 tháng 2 nhuần năm Đinh Hợi), chi đội trưởng Vệ Quốc Quân Bửu Vinh và Thanh Tra Chánh Trị miền Tây Nam Bộ Trần Văn Nguyên, âm mưu mời Ngài đến họp và hãm hại Ngài tại ngọn rạch Đốc Vàng Hạ, nay thuộc xã Tân Phú, tỉnh Đồng Tháp . Trong lúc họp, Bửu Vinh đã cho quân của Việt Minh phục kích và giết các tự vệ quân của Đức Giáo Chủ . Trong lúc rối loạn, Đức Thầy vẫn bình tĩnh , thổi tắt ngọn đèn và ra đi trong đêm tối . Sau biến cố này , không một ai rõ tin về Ngài .

Liền ngày sau, Việt Minh đã phát động một chiến dịch đại quy mô nhằm tiêu diệt tất cả các chức sắc PGHH và cán bộ VN Dân Chủ Xã Hội Đảng .

Kể từ ngày Đức Giáo Chủ ra đi cho đến nay 1947 - 2001 là đã 54 năm tròn, PGHH phải liên tục tự vệ để sống. Đoàn thể PGHH vẫn một lòng tin tưởng rằng Cộng Sản không thể nào hãm hại được Đức Giáo Chủ và Ngài sẽ trở về để hoàn tất sứ mạng thiêng liêng tại Hội Long Hoa đúng như những lời tiên tri trong kinh giảng.

Và với công đức phi thường đó của Đức Giáo Chủ trong công cuộc truyền giáo và cứu quốc, trái tim của người tín đồ PGHH đã và đang luôn hướng về Ngài và sẵn sàng xã thân vì đạo nghĩa.

Trang: 1 ... 13 [14]
Portal Management Extension PortaMx™ v0.956 | PortaMx © 2008-2009 by PortaMx corp.